15 thg 9, 2016

DẤU ẤN VĂN HOÁ XỨ THANH TRÊN ĐẤT NAM TRUNG BỘ

        
Danh thắng Ngũ Hành sơn
Ảnh: Du lịch Đà Nẵng 
              HOÀNG TUẤN PHỔ
Xứ Quảng xưa là vùng đất rộng dài suốt dải phía Nam Trung bộ, từ Quảng Nam, Quảng Ngãi đến Khánh Hòa, Bình Thuận... Người Thanh Hóa đầu tiên đến Quảng Nam theo sử chép, là Hoàng đế Đại Việt Lê Đại Hành.

          Thời bấy giờ, nếu đế chế phương Bắc xưng là “Thiên triều” cai quản “vạn quốc” thì vương triều Chăm – pa cũng tự phong “vị thần tối cao” của thiên hạ. Nước ta bị xem là miếng mồi ngon đặt giữa hai con sói, một lớn, một bé đều thèm ăn, khát uống, lúc nào cũng sẵn sàng nhe nanh, múa vuốt. Nhà nước Đại Việt không muốn gây chiến tranh. Sau khi “phá Tống”, buộc phải “bình Chiêm” vì vua Chiêm Ba Mỹ Thuế (Paramesvaravarman I) bắt giam hai sứ giả hòa bình Từ Mục và Ngô Tử Canh, Hoàng đế Lê Đại Hành tự làm tướng tiến quân vào tận kinh đô In-đra-pu-ra, chém tại trận kẻ cầm đầu vương triều Chăm – pa, ở Đồng Dương, Quảng Nam.

          Văn hóa Xứ Thanh, đóng góp xây dựng miền đất phía Nam bắt đầu in dấu ấn rõ nét nhất từ năm 1558, Nguyễn Hoàng (con trai Nguyễn Kim) được vua Lê Trung hưng sai đi trấn thủ Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng người Gia Miêu Ngoại trang, huyện Tống Sơn, nay là huyện Hà Trung, Thanh Hóa. Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, mang theo hơn 1.000 binh sĩ, 500 gia nhân, tôi tớ, chưa kể nhân dân, đều là người Thanh Hóa, đây là đợt di dân, cuộc Nam tiến đầu tiên lớn nhất trong lịch sử được sách vở ghi chép, đánh giá cao. Cuộc di dân Nam tiến lớn thứ hai, năm 1600 cũng do Nguyễn Hoàng nhân chuyến ra Bắc chúc mừng vua Lê Trung hưng trở lại Thăng Long, được nhân dân Thanh Hóa đi theo khá đông.

          Sau khi kinh lý xong phủ Quảng Nam, Nguyễn Hoàng kiện toàn phủ Quảng Ngãi, phủ Bình Định, rồi lập lên phủ Phú Yên.

         
Danh thắng Ngũ Hành sơn
Ảnh: Du lịch Đà Nẵng 
Khoảng giữa thế kỷ XVI, đất Phú Yên, dân cư thưa thớt, chưa có tổ chức chính quyền, trộm cướp, giặc dã thường xảy ra, người Việt và người Chiêm không an tâm làm ăn. Năm 1578, Nguyễn Hoàng cử Lương Văn Chánh làm tri huyện Tuy Viễn (phủ Bình Định), giáp giới Phú Yên nhằm chuẩn bị mở mang đất Phú Yên, một địa phương đất đai rộng lớn, phì nhiêu chưa khai phá hết. Họ Lương ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa, nhiều người làm quan với nhà Lê. Lương Văn Chánh là võ quan trẻ tuổi, sớm thăng tiến đến chức Đô chỉ huy sứ. Ông theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, rất được tin dùng. Trọng nhậm Tuy Viễn Lương Văn Chánh vượt cõi, đánh đuổi bọn trộm cướp, giặc dã, giữ yên miền biên giới, nhân đó ông đem quân vào Phú Yên đóng lại và chiêu mộ lưu dân người Việt từ Bắc vào, đưa đi khai hoang, lập thành trại ấp, đặt hương chức cai quản, sai tuần đinh phòng gian, trừ nghịch. Khi tình hình Phú Yên tương đối ổn định, năm 1597, Nguyễn Hoàng ban lệnh sáp nhập vùng đất mới này vào địa đồ Thuận - Quảng, thăng chức Phù Nghĩa hầu cho Lương Văn Chánh, quyền coi huyện Tuy Hòa, trấn An Biên.

          Ban đầu dựng làng, Lương Văn Chánh dựa theo lối kiến trúc Xứ Thanh mang tính phòng thủ như làng cổ Trung Lập (Thọ Xuân), làng cổ Đông Sơn (thành phố Thanh Hóa)... chung quanh có hào, lũy, giữa là đường xương cá tỏa ra các ngõ xóm, nhà cửa ở gần nhau, nương tựa vào nhau, tiện giúp đỡ lẫn nhau khi tối lửa tắt đèn. Mỗi nhà lại có bờ rào gai, cổng ngõ để phòng gian tự bảo vệ mình. Quá trình xây dựng, phát triển ngày càng thêm nhiều luồng di dân mới bổ sung, đất đai mở mang, đồng ruộng khai phá không ngừng.

          Chúa Nguyễn Hoàng năm 1611 chính thức đặt thêm phủ Phú Yên bên cạnh phủ Quảng Ngãi gồm hai huyện Tuy Hòa, Đồng Xuân, sai Chủ sự Văn – Phong làm Lưu thủ, phủ Phú Yên, thay Lương Văn Chánh tuổi già.

          Phía bắc phủ Phú Yên là phủ Quảng Ngãi. Năm 1601, Nguyễn Hoàng cử Huỳnh Công Thiệu tước Vũ Sơn hầu làm Chánh Đề Lĩnh cai quản phủ Quảng Ngãi, bởi tuy đã là đơn vị hành chính từ lâu, nơi đây vẫn thường bị quân giặc quấy phá, phải dùng võ quan biết văn trị để phụ trách quân dân sự vụ.
          Huỳnh Công Thiệu, người làng Cam Giá, huyện Tống Sơn (Hà Trung, Thanh Hóa) là tướng tâm phúc của Chúa Nguyễn Hoàng, do công lao được phong đến tước hầu. Phía Nam Quảng Ngãi, còn nhiều đất hoang, rừng rậm, nơi trú ngụ của loài ác thú, kẻ gian phi, nên phải khai hoang phá rậm để chúng không còn chỗ ẩn nấp, vừa thêm nguồn lợi cho nước, vừa giúp dân an cư lạc nghiệp. Công Thiệu chiêu mộ kẻ nghèo đói lang thang, phiêu bạt không kể người Chăm hay người thiểu số, cùng người Việt phá rừng rậm làm ruộng, khai hoang lập ấp, khơi ngòi lấy nước tưới, đắp đập chắn lũ, chẳng bao lâu cả một vùng hoang rậm thành xóm làng trù mật (1).

          Địa bàn Huỳnh Công Thiệu tổ chức khai khẩn, lập thôn ấp, nay là các xã Phổ Ninh, Phổ Minh, thị trấn Đức Phổ và các vùng phụ cận phía đông, phía tây xã Hòa Phố, cho tới đèo Bình Đê giáp ranh tỉnh Bình Định. Ông tổ chức lưu dân và binh lính làm các công trình thủy lợi, xây dựng hệ thống tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tài liệu địa phương còn lưu giữ được khá cụ thể. Công Thiệu cho đắp đập, xẻ khe ngòi tạo nên hệ thống dẫn nước từ sông Trà Câu như đào kênh Bàu Sếu ở ấp Trường Sanh, Phổ Minh đắp đập Quán, đập Dịu thôn Tân Tự, Phổ Minh, đập Đồng Nghệ thôn Nho Lâm, Phổ Hòa, đập Vực Tre, ấp An Ninh, Phổ Minh. Các công trình thủy lợi nhỏ này không chỉ đáp ứng tốt nhu cầu cho đồng ruộng mới khẩn hoang trên diện rộng mà còn góp phần vào phát triển nông nghiệp ở vùng đất phía Nam huyện Mộ Hoa, phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) lúc bấy giờ.

          Tổng số ruộng đất do Huỳnh Công Thiệu tổ chức khai khẩn tới 2.000 mẫu. Tiếp tục sự nghiệp của cha, con trai Huỳnh Công Bằng và cháu nội Huỳnh Đăng Khôi và Huỳnh Đăng Lễ cũng mộ dân khai khẩn thêm đất đai các vùng phụ cận từ xứ Lộ Bôi cho đến Bình Đê... lập nên nhiều tụ điểm dân cư đông đúc.

          Khoảng năm 1610, Huỳnh Công Thiệu đem quân đánh đuổi giặc Man cướp phá bờ cõi, bị hy sinh tại trận. Nhân dân địa phương lập đền thờ ông ở xã Lộ Bôi, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Đời vua Thành Thái thứ 2 (1890) ban sắc phong để tưởng nhớ công lao Huỳnh Công Thiệu, tôn hiệu Dực bảo trung hưng linh phù chi thần, cho dân xã thờ phụng như cũ.

          Người Thanh Hóa di cư vào miền đất Nam Trung bộ theo con đường lưu vong dưới thời Lê Trung hưng ngày càng đông. Nhiều gia đình phát triển thành dòng họ lớn nhưng rất ít dòng họ có gia phả hoặc giữ được gia phả, đa số chỉ ghi nhớ theo truyền ngôn. Như các họ Phạm, họ Nguyễn, họ Đỗ... ở làng Phương Cựu, xã Phương Hải, huyện Ninh Khánh (nay là Ninh Hải) tỉnh Ninh Thuận, các cụ cao tuổi được truyền lại, tổ tiên xưa vốn người Thanh Hóa (2).

          Ở làng Phương Cựu (tỉnh Ninh Thuận), riêng họ Lê Duy hiện còn giữ được nhiều giấy tờ xưa và bản gia phả ghi chép cụ thể nguồn gốc gia đình, dòng họ mình.

          Thủy tổ họ Lê Duy làng Phương Cựu là hai anh em ruột Lê Duy Đằng, Lê Duy Đăng ở xã Bố Vệ, huyện Đông Sơn (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Đời vua Lê Chiêu Thống, hai anh em sợ quân Tây Sơn giết hại, cùng 28 bạn làm nghề chài lưới dùng thuyền buồm chạy một mạch đến cuối tỉnh Khánh Hòa, tạt vào một nơi gọi là Mò Ô (nay là ấp Thanh Xương, bán đảo Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa). Trú ở Thanh Xương ít lâu, ông Đằng qua đời, ông em theo lời dặn của anh, táng thi hài vào chỗ vốn là đầm lầy, rồi tiếp tục cắm sào bỏ neo tại đây. Ông định ở lại lâu dài nên dựng từ đường trên đất liền, đặt linh vị ông bà, tổ tiên để lo phần hương khói. Một thời gian, nhận thấy đất Thanh Xương chỉ lợi nghề nông, không tiện nghề biển, ông Đăng đem gia đình vợ con, các cháu cùng 8 người bạn chài: Lê Công Hầu, Lê Công Ích, Lê Sĩ Cảnh, Lê Hiển Đạt, Trương Quang Tuyến, Trần Anh Tuấn (còn hai anh em họ Nguyễn bị khuyết tên) dùng thuyền buồm nhỏ, nhổ neo đi tiếp vào phía trong dừng lại cửa Nại (ấp Duy Khương, đồi Dư Khánh, nay thuộc tỉnh Ninh Thuận) rồi di chuyển đến bên kia sông làm nghề chắn đăng bắt cá (sau này thuộc thôn Tri Thủy, tỉnh Ninh Thuận).

          Một số nhà nghiên cứu văn hóa sông nước Nam Trung bộ cho rằng: Tập quán dân chài Nam Trung bộ ở ven bờ sông lạch, cửa biển, bãi ngang bắt nguồn từ truyền thống cư trú lâu đời của ngư dân Thanh Hóa và Bắc Trung bộ nói chung. Bởi thế làng mạc cửa sông, ven biển Nam Trung bộ nhiều nơi dân cư tập trung khá đông đúc, mặc dù đất đai không thiếu.

          Phía Bắc Bình Định, Phú Yên là Quảng Nam, Lê Thánh tông năm 1471, sau khi dẹp yên giặc Chiêm, bắt đầu cuộc kinh dinh lớn. Nhà vua để lại đây hàng vạn binh sĩ và gần 300 tướng văn, tướng võ, trong số đó rất đông người Thanh Hóa, những hạt nhân gieo mầm sống. Họ chia nhau ở 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn, lúc ấy thuộc thừa tuyên Quảng Nam (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Riêng ở Quảng Nam, phần đông người họ Lê gốc Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hóa) đã được ghi chép và lưu truyền trong các “Gia phả Lê tộc huynh đệ” (3) nói rõ công lao khai sơn phá thạch, lập nên thôn xã ở khắp nơi. Dưới đây chỉ kể một số trường hợp tiêu biểu:
          - Hoàng thân Lê Tấn Triều có công Nam chinh 1471 được phong Triệu quốc công, Lê Thánh tông sai ở lại Thăng Hoa trấn thủ châu Ngũ Hành. Ông tổ chức khai hoang, vỡ hóa, lập làng, tổng số ruộng đất hơn 6.000 mẫu. Ông còn đem thợ đá An Hoạch (làng Nhồi Thượng) Thanh Hóa vào khai thác đá quý Ngũ Hành sơn sản xuất đồ đá phục vụ quốc dụng và dân dụng, truyền đến nay thành một làng nghề nổi tiếng.

          - Hoàng thân Lê Tấn Trung (em Lê Tấn Triều) là công thần Trung hưng phế Lê Nghi Dân đưa Lê Thánh tông lên ngôi, lập công Nam chinh, được phong tước Triệu quận công. Vua cử ông ở lại châu Lễ Dương. Ông tập hợp dân vỡ hoang lập ấp, đời sau suy tôn làm tiên hiền nhiều làng.

           - Lê Viết Bang chức Thiêm sự chỉ huy, sau cuộc Nam chinh 1471, Lê Thánh tông sai ở lại trấn thủ đất Chiêm Động. Nơi đây chủ yếu chỉ có thổ dân tính tình ngang ngạnh hay gây gổ đánh nhau. Giặc cướp ngoài biên rình cơ hội kéo vào cướp phá. Lê Viết Bang đem quân trấn áp bọn nghịch tặc, nơi nào giữ yên liền mộ dân đến ở vỡ hóa, khai hoang, không phải nộp thuế. Nhờ vậy, chính dân cư xóm ấp mới lập cũng giúp ông trị an rất đắc lực. (Nay thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam)...

          Nhìn chung Xứ Quảng (Nam Trung bộ), chúng ta có thể nhận ra những nét khái quát của người Xứ Thanh trên đường Nam tiến mở đất mở nước từ cách đây nghìn năm trước. Họ gắn bó với đất đai, sẵn sàng đem mồ hôi, nước mắt, cả máu xương bảo vệ từng tấc đất, xây dựng quê hương mới, một quê hương mãi mãi của họ và con cháu muôn đời. Đất dẫu không tốt, cò vẫn đậu. Đến đây là ở lại đây. Họ chiến thắng mọi kẻ thù. Không có họ, nhiều vùng đất chỉ là đất chết. Họ mở đất mở cõi, đem mầm sống xanh tươi trải dài mãi về phía Nam Tổ quốc. Truyền thống hiếu học và yêu nước Xứ Thanh cũng in dấu ấn trên quê hương Xứ Quảng. Quy ước vùng quê Phú Yên từ Huỳnh Công Thiệu (thế kỷ XVI) lưu truyền mãi về sau, các thôn ấp đều trích công điền một phần thích đáng làm “học điền” để khuyến khích con em đi học nâng cao dân trí. Gia đình Lê Viết Bang (thế kỷ XV) phát triển thành dòng họ Lê Viết nổi tiếng hiếu học ở huyện Điện Bàn, Quảng Nam, đến thời hiện đại đã có hơn 30 giáo sư, tiến sĩ, đóng góp đáng kể cho văn hóa nước nha...

          Nhà nghiên cứu âm nhạc, nhạc sĩ Tú Ngọc cho rằng đa số những lời hát dân ca Trung bộ, thiên nhiên sông nước thực sự là những lời ca bắt nguồn từ thực tế lao động trên sông với những điệu hò lao động: Hò rời bến, hò xuôi nhịp đôi một, hò đường trường, hò cặp bến trong Hò sông Mã Thanh Hóa (4). Chúng ta cũng thấy dấu ấn dân ca nổi tiếng Xứ Thanh, điệu hò lao động sông nước trong Hò mái nhì dân ca Bình Trị Thiên, Hò giựt chì dân ca Liên Khu 5...
          GS Trần Quốc Vượng phát hiện một nét tâm tình người con xa xứ thể hiện ở những địa danh văn hóa “Cồn, Bàu” đặc trưng của cảnh quan địa lý vùng Trung bộ: Bàu Khê, Bàu Trò, Cồn Vàng ở Thừa Thiên, Bàu Dũ, Bàu Trám, Cồn Hậu Xá ở Quảng Nam, Cồn Cam Ranh ở Khánh Hòa... (5) . Xin nói thêm: Riêng địa danh văn hóa Cồn, Bàu ở Thanh Hóa làng quê nào cũng có, chứng tỏ cái gốc của chúng không thể nơi nào khác ngoài Xứ Thanh.

          GS Lê Văn Hảo còn đề cập múa Lên đồng ở điện Hòn Chén, múa Bát dật cung đình Huế (6). Nhưng thôi, bài viết này đã quá dài mặc dù tác giả phải lướt qua, lượt bớt nhiều, rất nhiều điều thú vị về dấu ấn văn hóa Xứ Thanh của người Thanh Hóa trải dài trên con đường vạn dặm mở đất mở cõi phương Nam đến tận vịnh biển An Giang...

H.T.P 


(1) Tài liệu Bào tàng tỉnh Quảng Ngãi cung cấp.
(2), (3) Phạm Ngô Minh – Lê Duy Anh: Nhân vật họ Lê trong lịch sử - NXB Đà Nẵng, 2001.
 (4) NS Tú Ngọc: Dân ca người Việt – NXB Âm nhạc – Hà Nội, 1994.
(5) Trần Quốc Vượng: Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm – NXB Văn học Hà Nội, 2005.
(6) Lê Văn Hảo: Huế giữa chúng ta, NXB Thuận Hóa – Huế, 1981...