21 thg 10, 2019

NGHĨA CỦA “LÕNG” TRONG TỪ “LẠC LÕNG”

Đàn sói đi theo lõng
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG


Từ điển từ láy tiếng Việt” (Viện ngôn ngữ - Hoàng Văn Hành chủ biên) thu thập và giải nghĩa:
“LẠC LÕNG tt. (hoặc đgt.). Lạc nhau, không còn ở cùng một chỗ. Chạy loạn, gia đình lạc lõng mỗi người một nơi. “Mấy chú nhện lạc lõng nơi nào tới đã chăng mạng kín cả cửa ngõ” (Tô Hoài). Chơ vơ, lẻ loi do bị rơi vào một môi trường tách biệt hoặc hoàn cảnh hoàn toàn xa lạ. Lạc lõng nơi đất khách quê người. Một làng lạc lõng nằm trong rừng sâu. Không phù hợp với chung quanh, không ăn khớp với những cái khác. Bài văn có nhiều ý lạc lõng xa đề. Lối sống lạc lõng”.

“GÁI GIẾT CHỒNG, ĐÀN ÔNG AI GIẾT VỢ”

"Cửu Thúc giấu xương chờ khách hiệp;
Võ Tòng giết chị tế hồn anh"
Tranh minh hoạ Trung Quốc

      HOÀNG TUẤN CÔNG

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Gái giết chồng, đàn ông ai giết vợ”, dị bản: “Gái giết chồng, đàn ông ai nỡ giết vợ”; “Gái giết chồng chứ, đàn ông không ai giết vợ”; “Đàn bà mới hay giết chồng; chứ đàn ông ít ai lại nỡ giết vợ”; “Gái giết chồng chứ, đàn ông không ai giết vợ”.
Tuy có khác nhau chút ít về từ ngữ diễn đạt, nhưng những dị bản trên đều đồng nghĩa. Vấn đề là tại sao dân gian lại có sự nhận định mang tính đúc kết này?
-Sách “Kho tàng tục ngữ người Việt” (Nguyễn Xuân Kính-Nguyễn Thuý Loan-Phan Lan Hương) chỉ thu thập các dị bản, chứ không trích dẫn giải thích, hoặc đưa ra lời giảng giải nào.

6 thg 10, 2019

“HẰNG HÀ”, “HÀ SA” VÀ “HẰNG HÀ SA SỐ”

Hằng Hà
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG

Từ điển từ láy tiếng Việt”  (Viện ngôn ngữ - Hoàng Văn Hành chù biên) cho rằng “hằng hà” là từ láy, nên đã thu thập và giải nghĩa: HẰNG HÀ tt. Nhiều đến mức không thể đếm được. “Phố phường kéo đến hằng hà, Đua mang cá thịt rượu trà tiến dâng” (Phạm Công Cúc Hoa)”. 
Thực ra, “Hằng hà” 恆河, hay “hà sa   một cách nói tắt thành ngữ “Hằng hà sa số恆河沙數 (Nhiều như số cát sông Hằng), ý nói rất nhiều, không thể đếm hết: 
          -Hán ngữ đại từ điển giải thích:
1.“hằng hà: Phạn ngữ. Tên một con sông lớn ở Nam Á, phát nguyên từ Nam sườn núi Hi Mã Lạp Nha (Hymalaya), chảy qua Ấn Độ (India), Mạnh Gia Lạp (Banglades), rồi đổ vào biển cả. Người Ấn Độ xem Hằng Hà là con sông Thánh, sông Phúc. “Kim Cương kinh Vô vi phúc thắng phần”: “Cát ở sông Hằng Hà đã là nhiều vô số, huống chi số cát của Hằng hà sa số sông Hằng” [恆河: 梵語. 南亞 大河. 發源於 喜馬拉雅山 南坡, 流經 印度, 孟加拉國 入海. 印度 人多視為聖河, 福水. “金剛經無為福勝分”: “但諸 恆河 尚多無數,何況其沙Hằng hà: Phạn ngữ. Nam Á đại hà. Phát nguyên ư Hi Mã Lạp Nha sơn nam ba, lưu kinh Ấn Độ, Mạnh Gia Lạp quốc nhập hải. Ấn Độ đa nhân thị vi Thánh hà, Phúc thuỷ. “Kim Cương kinh Vô vi phúc thắng phận”: “Đản chư Hằng hà thượng đa vô số, hà huống kỳ sa.”].

30 thg 9, 2019

“TỨ TUNG” LÀ GÌ?

Thủ ấn trong "Tứ tung ngũ hoành"
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG

Từ điển từ láy tiếng Việt” (Viện Ngôn ngữ - Hoàng Văn Hành chủ biên) xem “tứ tung” là từ láy, và giải nghĩa: “TỨ TUNG tt. Khắp mọi nơi mọi chỗ, không theo một trật tự nào. Nhà dột tứ tung”.
Thực ra, “tứ tung” là nói tắt từ thành ngữ “Tứ tung ngũ hoành” 四縱五橫. Sách “Ngọc Hạp thông thư (tác giả Hứa Chân Quân; Đam Liên dịch - NXB Hồng Đức, 2017) viết: “gặp việc cấp bách không thể đợi được ngày tốt đến thì chọn một giờ cát lợi để làm, gọi là phương pháp Tứ tung ngũ hoành.”.

7 thg 9, 2019

LỌT VÀO “MẮT XANH” HAY “MẮT ĐEN”?

Tranh chì của Hoạ sĩ Nguyễn Quang Thắng
Nguồn: myidol.com.vn

HOÀNG TUẤN CÔNG

“Mắt xanh” do hai chữ “thanh nhãn” 青眼.
-Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh) giải thích: “thanh nhãn 青眼 – mắt xanh – Trọng thị người ta”.
-Hán Việt tự điển (Thiều Chửu): “thanh nhãn 青眼 coi trọng, Nguyễn Tịch 阮籍 nhà Tấn tiếp người nào coi là trọng thì con mắt xanh, người nào coi khinh thì con mắt trắng, vì thế nên trong lối tờ bồi hay dùng chữ thùy thanh 垂青 hay thanh lãm 青覽 đều là nói cái ý ấy cả, cũng như ta nói, xin để mắt xanh mà soi xét cho vậy”.

27 thg 8, 2019

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Kỳ 21)

Cây trôi ở đầu làng Văn Đoài
Ảnh: HTC

HOÀNG TUẤN PHỔ


Sáng sớm hôm sau, đúng 6 giờ, 3 hồi còi rúc vang rền, tôi giật mình thức giấc, ngồi nhổm dậy. Đầu tóc quần áo tôi ướt đầm đìa, mùi khai thối nồng nặc đến phát lộn mửa! Nhìn vào nồi vệ sinh thấy nước tiểu đầy phè, phân nổi lềnh phềnh bắt đầu tràn ra ngoài!
Một hồi còi dài rúc lên…Ban trực điểm danh từng tên một. May quá không thiếu ai. Nếu thiếu người, thứ nhất trưởng buồng, thứ hai tên đứng gác, thứ ba kẻ nằm bên cạnh đều phải chịu trách nhiệm.

17 thg 8, 2019

NGHĨA CỦA “XẨU” TRONG TỪ “XƯƠNG XẨU”

Phở gánh Hà Nội
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG

Có lẽ, các nhà biên soạn từ điển cho rằng, “xẩu” chỉ là yếu tố láy âm của “xương”, nên đã xếp “xương xẩu” vào diện “từ láy” và giải nghĩa như sau:
Từ điển từ láy tiếng Việt” (Viện Ngôn ngữ - Hoàng Văn Hành chủ biên): XƯƠNG XẨU I. dt. Phần xương (nói khái quát); thường dùng để ví với cái khó làm, khó ăn. Trâu bò gầy, xương xẩu nhô cả ra. Phải nhận phần đất xương xẩu nhất. II. Gầy đến mức nhô cả xương ra. Người gầy gò, xương xẩu”.

23 thg 7, 2019

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Kỳ 20)

Ảnh minh hoạ sưu tầm

HOÀNG TUẤN PHỔ

Lệnh đến giờ ngủ đã ban truyền. Tất cả tù nhân rào rào nằm xuống, ai chỗ nào vào chỗ ấy. Lối kiến trúc thời xưa lòng nhà bề rộng hẹp, thường mỗi gian đình chỉ rộng độ 2m5 (trung bình), riêng gian giữa rộng nhất 3m trở lên. Gian số 1 và số 5 hẹp nhất. Hai hàng người nằm câu đầu vào nhau, nhưng không được nằm ngửa, phải nằm nghiêng, ôm lấy nhau đằng lưng, kiểu úp thìa, đôi chân co quắp cho đủ chỗ. Vẫn còn thừa người, ở giữa phải xếp thêm một hàng nằm ngang kiểu gắp cá. Còn tôi nằm đâu? Tôi phải nằm ôm lấy nồi vệ sinh của cả buồng mà ngủ.

21 thg 7, 2019

GIẺ CÙI TỐT MÃ

Chim giẻ cùi
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG

-“Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương) giải thích: “Giẻ cùi tốt mã Giẻ cùi (vốn chỉ được mỗi một ưu điểm là) tốt mã mà thôi. Hay dùng để nhắc mọi người là hãy chú trọng nhiều hơn tới thực chất, chứ đừng hoa mắt lên trước vẻ loè loẹt bề ngoài”.  
-Từ điển từ và ngữ Việt Nam” (GS Nguyễn Lân): “Tốt mã giẻ cùi • ng. (Giẻ cùi là một loài chim có bộ lông đẹp và có đuôi dài) ý nói: Chỉ tốt ở bề ngoài thôi <> Đừng tin vào lời nói ngọt xớt của mụ ta, chẳng qua chỉ là tốt mã giẻ cùi mà thôi”.

10 thg 7, 2019

MƠ HỒ TÍT BÁO

Một tít bài mắc lỗi diễn đạt
Ảnh: St
                      TRẦN SƠN


Kính thưa anh Tuấn Công.
Tôi là Trần Ngọc Sơn, một GV tiểu học ở tỉnh Phú Thọ. Tôi là một độc giả thường xuyên Thư Phòng của Anh. Tôi cũng có "bệnh" giống Anh là ham đọc sách, hay tìm hiểu, soi xét về chữ nghĩa (...). Hôm nay, tôi xin được gửi tới Anh một bài viết về các lỗi chữ nghĩa trên tít bài của báo. Tôi rất mong được Anh thẩm định và trao đổi, giúp tôi được mở mang kiến thức. Và, nếu được, Anh có thể đăng tải bài viết trên trang Blog Thư Phòng của Anh để độc giả cùng trao đổi.
Trân trọng cảm ơn Anh.
Kính thư: Trần Ngọc Sơn.

7 thg 7, 2019

NGHĨA CỦA “VẠC” TRONG “VỠ VẠC”

Vạc bờ
Ảnh: Báo Hưng Yên

HOÀNG TUẤN CÔNG

Từ điển từ láy tiếng Việt” (Viện ngôn ngữ-Hoàng Văn Hành chủ biên) thu thập và giải nghĩa: “VỠ VẠC đgt. (kgn.). Vỡ hoang, khai phá đất hoang (nói khái quát). Mỗi vụ trên mảnh đất mới vỡ vạc cũng thu được dăm tạ thóc. 2. Vỡ ra, bắt đầu hiểu ra, nhận biết ra (nói khái quát). Chịu khó dạy nó mấy buổi nó cũng đã vỡ vạc ra. Bây giờ đã vỡ vạc ra nhiều chứ trước kia thì mù tịt”.