Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Tuấn Công. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Tuấn Công. Hiển thị tất cả bài đăng

14 thg 1, 2020

“MỒ CHẲNG CHỐI, NÓI DỐI CHO MỒ”

Sự yên tĩnh vĩnh hằng
                                      Tranh: Levitan

    HOÀNG TUẤN CÔNG


Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương-NXB Tổng hợp TP, HCM-2010) đưa ra dị bản: “Mồ chẳng DỐI, nói dối cho mồ: Mồ vốn chẳng biết nói dối (nên đám thầy địa lý rởm) mới có cơ nói dối thay cho các nấm mồ. Hay dùng để nhắc mọi người chớ có vội tin lời của đám thầy địa lý rởm (vì đó chỉ là những lời nói dối để moi tiền)”.

4 thg 1, 2020

TỪ “PHỒN SINH” TỚI “BÓNG ĐÈ”, NGHĨ ĐẾN HIỆN TƯỢNG ĐỘC QUYỀN CHỮ NGHĨA

Tranh minh hoạ về hiện tượng "bóng đè"
Nguồn: st

HOÀNG TUẤN CÔNG

Trong bài “Đỗ Hoàng Diệu nói gì về phim ‘Bóng đè’ trùng với tên tác phẩm của mình?” (Tiền Phong - 24/12/2019), Đỗ Hoàng Diệu cho biết “Tin đấy dập vào mặt tôi còn rát hơn cả tuyết”. 

3 thg 12, 2019

“CHỞ” TRONG TỪ “CHE CHỞ” NGHĨA LÀ GÌ?

Bài "Trường ca hành" của Lý Bí
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG
Trong bài “Nên xem ‘che chở’ là từ láy hay từ ghép” (nguvanthcs.wordpreess.com), ThS. Lê Bá Miên, Khoa Ngữ văn - ĐHSP 2 - Xuân Hòa - Mê Linh - Vĩnh Phúc cho rằng: “chở” chẳng qua chỉ là sự biến dạng của “che”. Tác giả cho biết:

27 thg 10, 2019

“GÀ” TRONG “GÀ GẬT” NGHĨA LÀ GÌ?


         
Gà gật
                                                             Ảnh: ST
            HOÀNG TUẤN CÔNG 

Từ điển từ láy tiếng Việt” (Viện ngôn ngữ-Hoàng Văn Hành chủ biên) thu thập và giải nghĩa: “GÀ GẬT đgt. (kng.). Ngủ lơ mơ, không say, đầu thỉnh thoảng lại gật nhẹ, do ở tư thế ngồi hoặc đứng. “Có người mệt quá, vừa đi vừa gà gật” (Vượt thời gian)”.
          Căn cứ cách giảng của nhà biên soạn từ điển, thì “gật” trong “gà gật” là tiếng gốc, còn “gà” chỉ là yếu tố “láy”. Tuy nhiên, “gà gật” là từ ghép đẳng lập, vốn là một cách nói tắt của “ngủ gà ngủ gật”, hay là sự hợp nghĩa của hai từ ghép chính phụ “ngủ gà” và “ngủ gật” được giản hoá.

21 thg 10, 2019

NGHĨA CỦA “LÕNG” TRONG TỪ “LẠC LÕNG”

Đàn sói đi theo lõng
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG


Từ điển từ láy tiếng Việt” (Viện ngôn ngữ - Hoàng Văn Hành chủ biên) thu thập và giải nghĩa:
“LẠC LÕNG tt. (hoặc đgt.). Lạc nhau, không còn ở cùng một chỗ. Chạy loạn, gia đình lạc lõng mỗi người một nơi. “Mấy chú nhện lạc lõng nơi nào tới đã chăng mạng kín cả cửa ngõ” (Tô Hoài). Chơ vơ, lẻ loi do bị rơi vào một môi trường tách biệt hoặc hoàn cảnh hoàn toàn xa lạ. Lạc lõng nơi đất khách quê người. Một làng lạc lõng nằm trong rừng sâu. Không phù hợp với chung quanh, không ăn khớp với những cái khác. Bài văn có nhiều ý lạc lõng xa đề. Lối sống lạc lõng”.

“GÁI GIẾT CHỒNG, ĐÀN ÔNG AI GIẾT VỢ”

"Cửu Thúc giấu xương chờ khách hiệp;
Võ Tòng giết chị tế hồn anh"
Tranh minh hoạ Trung Quốc

      HOÀNG TUẤN CÔNG

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Gái giết chồng, đàn ông ai giết vợ”, dị bản: “Gái giết chồng, đàn ông ai nỡ giết vợ”; “Gái giết chồng chứ, đàn ông không ai giết vợ”; “Đàn bà mới hay giết chồng; chứ đàn ông ít ai lại nỡ giết vợ”; “Gái giết chồng chứ, đàn ông không ai giết vợ”.
Tuy có khác nhau chút ít về từ ngữ diễn đạt, nhưng những dị bản trên đều đồng nghĩa. Vấn đề là tại sao dân gian lại có sự nhận định mang tính đúc kết này?
-Sách “Kho tàng tục ngữ người Việt” (Nguyễn Xuân Kính-Nguyễn Thuý Loan-Phan Lan Hương) chỉ thu thập các dị bản, chứ không trích dẫn giải thích, hoặc đưa ra lời giảng giải nào.

6 thg 10, 2019

“HẰNG HÀ”, “HÀ SA” VÀ “HẰNG HÀ SA SỐ”

Hằng Hà
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG

Từ điển từ láy tiếng Việt”  (Viện ngôn ngữ - Hoàng Văn Hành chù biên) cho rằng “hằng hà” là từ láy, nên đã thu thập và giải nghĩa: HẰNG HÀ tt. Nhiều đến mức không thể đếm được. “Phố phường kéo đến hằng hà, Đua mang cá thịt rượu trà tiến dâng” (Phạm Công Cúc Hoa)”. 
Thực ra, “Hằng hà” 恆河, hay “hà sa   một cách nói tắt thành ngữ “Hằng hà sa số恆河沙數 (Nhiều như số cát sông Hằng), ý nói rất nhiều, không thể đếm hết: 
          -Hán ngữ đại từ điển giải thích:
1.“hằng hà: Phạn ngữ. Tên một con sông lớn ở Nam Á, phát nguyên từ Nam sườn núi Hi Mã Lạp Nha (Hymalaya), chảy qua Ấn Độ (India), Mạnh Gia Lạp (Banglades), rồi đổ vào biển cả. Người Ấn Độ xem Hằng Hà là con sông Thánh, sông Phúc. “Kim Cương kinh Vô vi phúc thắng phần”: “Cát ở sông Hằng Hà đã là nhiều vô số, huống chi số cát của Hằng hà sa số sông Hằng” [恆河: 梵語. 南亞 大河. 發源於 喜馬拉雅山 南坡, 流經 印度, 孟加拉國 入海. 印度 人多視為聖河, 福水. “金剛經無為福勝分”: “但諸 恆河 尚多無數,何況其沙Hằng hà: Phạn ngữ. Nam Á đại hà. Phát nguyên ư Hi Mã Lạp Nha sơn nam ba, lưu kinh Ấn Độ, Mạnh Gia Lạp quốc nhập hải. Ấn Độ đa nhân thị vi Thánh hà, Phúc thuỷ. “Kim Cương kinh Vô vi phúc thắng phận”: “Đản chư Hằng hà thượng đa vô số, hà huống kỳ sa.”].

30 thg 9, 2019

“TỨ TUNG” LÀ GÌ?

Thủ ấn trong "Tứ tung ngũ hoành"
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG

Từ điển từ láy tiếng Việt” (Viện Ngôn ngữ - Hoàng Văn Hành chủ biên) xem “tứ tung” là từ láy, và giải nghĩa: “TỨ TUNG tt. Khắp mọi nơi mọi chỗ, không theo một trật tự nào. Nhà dột tứ tung”.
Thực ra, “tứ tung” là nói tắt từ thành ngữ “Tứ tung ngũ hoành” 四縱五橫. Sách “Ngọc Hạp thông thư (tác giả Hứa Chân Quân; Đam Liên dịch - NXB Hồng Đức, 2017) viết: “gặp việc cấp bách không thể đợi được ngày tốt đến thì chọn một giờ cát lợi để làm, gọi là phương pháp Tứ tung ngũ hoành.”.

7 thg 9, 2019

LỌT VÀO “MẮT XANH” HAY “MẮT ĐEN”?

Tranh chì của Hoạ sĩ Nguyễn Quang Thắng
Nguồn: myidol.com.vn

HOÀNG TUẤN CÔNG

“Mắt xanh” do hai chữ “thanh nhãn” 青眼.
-Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh) giải thích: “thanh nhãn 青眼 – mắt xanh – Trọng thị người ta”.
-Hán Việt tự điển (Thiều Chửu): “thanh nhãn 青眼 coi trọng, Nguyễn Tịch 阮籍 nhà Tấn tiếp người nào coi là trọng thì con mắt xanh, người nào coi khinh thì con mắt trắng, vì thế nên trong lối tờ bồi hay dùng chữ thùy thanh 垂青 hay thanh lãm 青覽 đều là nói cái ý ấy cả, cũng như ta nói, xin để mắt xanh mà soi xét cho vậy”.

17 thg 8, 2019

NGHĨA CỦA “XẨU” TRONG TỪ “XƯƠNG XẨU”

Phở gánh Hà Nội
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG

Có lẽ, các nhà biên soạn từ điển cho rằng, “xẩu” chỉ là yếu tố láy âm của “xương”, nên đã xếp “xương xẩu” vào diện “từ láy” và giải nghĩa như sau:
Từ điển từ láy tiếng Việt” (Viện Ngôn ngữ - Hoàng Văn Hành chủ biên): XƯƠNG XẨU I. dt. Phần xương (nói khái quát); thường dùng để ví với cái khó làm, khó ăn. Trâu bò gầy, xương xẩu nhô cả ra. Phải nhận phần đất xương xẩu nhất. II. Gầy đến mức nhô cả xương ra. Người gầy gò, xương xẩu”.

21 thg 7, 2019

GIẺ CÙI TỐT MÃ

Chim giẻ cùi
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG

-“Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương) giải thích: “Giẻ cùi tốt mã Giẻ cùi (vốn chỉ được mỗi một ưu điểm là) tốt mã mà thôi. Hay dùng để nhắc mọi người là hãy chú trọng nhiều hơn tới thực chất, chứ đừng hoa mắt lên trước vẻ loè loẹt bề ngoài”.  
-Từ điển từ và ngữ Việt Nam” (GS Nguyễn Lân): “Tốt mã giẻ cùi • ng. (Giẻ cùi là một loài chim có bộ lông đẹp và có đuôi dài) ý nói: Chỉ tốt ở bề ngoài thôi <> Đừng tin vào lời nói ngọt xớt của mụ ta, chẳng qua chỉ là tốt mã giẻ cùi mà thôi”.

10 thg 7, 2019

MƠ HỒ TÍT BÁO

Một tít bài mắc lỗi diễn đạt
Ảnh: St
                      TRẦN SƠN


Kính thưa anh Tuấn Công.
Tôi là Trần Ngọc Sơn, một GV tiểu học ở tỉnh Phú Thọ. Tôi là một độc giả thường xuyên Thư Phòng của Anh. Tôi cũng có "bệnh" giống Anh là ham đọc sách, hay tìm hiểu, soi xét về chữ nghĩa (...). Hôm nay, tôi xin được gửi tới Anh một bài viết về các lỗi chữ nghĩa trên tít bài của báo. Tôi rất mong được Anh thẩm định và trao đổi, giúp tôi được mở mang kiến thức. Và, nếu được, Anh có thể đăng tải bài viết trên trang Blog Thư Phòng của Anh để độc giả cùng trao đổi.
Trân trọng cảm ơn Anh.
Kính thư: Trần Ngọc Sơn.

7 thg 7, 2019

NGHĨA CỦA “VẠC” TRONG “VỠ VẠC”

Vạc bờ
Ảnh: Báo Hưng Yên

HOÀNG TUẤN CÔNG

Từ điển từ láy tiếng Việt” (Viện ngôn ngữ-Hoàng Văn Hành chủ biên) thu thập và giải nghĩa: “VỠ VẠC đgt. (kgn.). Vỡ hoang, khai phá đất hoang (nói khái quát). Mỗi vụ trên mảnh đất mới vỡ vạc cũng thu được dăm tạ thóc. 2. Vỡ ra, bắt đầu hiểu ra, nhận biết ra (nói khái quát). Chịu khó dạy nó mấy buổi nó cũng đã vỡ vạc ra. Bây giờ đã vỡ vạc ra nhiều chứ trước kia thì mù tịt”.

29 thg 6, 2019

“LON” LÀ CÁI CHI MÀ KIÊNG ĐẾN VẬY?

Đồ hoạ sưu tầm

HOÀNG TUẤN CÔNG
Cục Văn hóa cơ sở (thuộc Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch) có công văn gửi các địa phương yêu cầu chấn chỉnh hoạt động quảng cáo sản phẩm Coca - Cola có sử dụng cụm từ "mở lon Việt Nam", vì cho rằng việc sử dụng cụm từ này trong nội dung quảng cáo có dấu hiệu về hành vi quảng cáo thiếu thẩm mỹ, không phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam.
Nhiều bạn đọc nhắn tin và gọi điện hỏi: Trong tiếng Việt “LON” có thể hiểu là những gì mà phải kiêng kỵ đến vậy? Có phải “LON” trong “bia LON” là từ vay mượn, du nhập theo loại đồ uống vốn không có ở Việt Nam?

8 thg 6, 2019

“VÀO RỪNG CHẲNG BIẾT LỐI RA…”

Lá và hoa vàng tâm
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG

Một độc giả đề nghị: “Anh giải thích giùm câu: Vào rừng chẳng biết lối ra//Thấy cây núc nác tưởng là vàng tâm. Có một ông vừa giải thích rằng: vàng tâm là cây quý, còn núc nác là cây bỏ đi, “ý muốn nói lên sự thất vọng về một thứ gì đó. Tưởng là nó tốt nhưng buồn thay, đó là thứ rất tầm thường!” Ông ấy khuyên: nếu không làm được cây vàng tâm thì đừng làm cây núc nác.

25 thg 5, 2019

“HÙNG HỔ” LÀ GÌ?


Hùng hổ tương đấu
Ảnh: St

        HOÀNG TUẤN CÔNG 


 Một số nhà biên soạn từ điển xếp “hùng hổ” vào diện “từ láy”:

-Từ điển từ láy tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học-Hoàng Văn Hành chủ biên): “HÙNG HỔ tt. Tỏ ra hung hăng, dữ tợn, đầy vẻ đe doạ. Quân địch hùng hổ tiến vào làng. Điệu bộ hùng hổ. “Lý trưởng hùng hổ chĩa bàn tay vào mặt chị Dậu” (Ngô Tất Tố)”.

11 thg 5, 2019

MẤY AI BIẾT LÚA VON, MẤY AI BIẾT CON HƯ

Lúa von
Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG

-Sách “Giải nghĩa tục ngữ Việt Nam” (Nguyễn Cừ) giải thích: “Mấy ai biết lúa ven (sic), mấy ai biết con hư: Lúa nhà mình, con nhà mình làm sao mà xấu mà hư được, phê phán tâm lý luôn cho mình là nhất, quá thương con mà không biết con hư”.
-“Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (GS. Nguyễn Lân) đưa ra dị bản: “Mấy ai biết lúa gon, mấy ai biết con ác (Lúa gon là lúa lẫn vào những cỏ dại) Ý nói: Nhiều cha mẹ vì quá nuông con nên không thấy được những mầm xấu ở con”.

20 thg 4, 2019

SAO LẠI GỌI LÀ “BỆ VỆ”?

Lính túc vệ "bệ vệ" bên vua Duy Tân

HOÀNG TUẤN CÔNG

“Bệ vệ” nghĩa là gì?
-“Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức biên soạn-Lê Ngọc Trụ hiệu đính) giải nghĩa: “bệ vệ • tt. Oai-vệ, nghiêm-nghị, dáng người cố tỏ ra bậc đáng kính: Trông bệ-vệ như ông hoàng”.
-“Việt Nam tự điển (Hội Khai Tiến Đức): “bệ-vệ • Oai-vệ, nghiêm-trang, làm ra bộ dạng bậc đại-nhân”. 

13 thg 4, 2019

GIÀ LỪA MẮC DƯA THỐI

              Con lừa
                              Ảnh: ST

HOÀNG TUẤN CÔNG


Tục ngữ Việt Nam có câu “Già lừa mắc dưa thối”. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu và biên soạn từ điển lại thu thập dị bản “Già lừa ĐẠP dưa thối” và giải thích:
-“Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam” (Nhóm Vũ Dung): “Già lừa đạp dưa thối (lừa: thú cùng họ với ngựa, nhưng nhỏ hơn, tai dài, nuôi để kéo xe). Già rồi, khôn ngoan lọc lõi mà còn mắc phải việc dại dột (ví như con lừa già mà dẫm phải dưa thối)”.
-“Thành ngữ tục ngữ Việt Nam” (Nhóm Bùi Hạnh Cẩn): “Già lừa đạp dưa thối (già lừa: con lừa già): Già rồi, tưởng khôn ngoan lọc lõi mà còn mắc phải việc dại dột”.

30 thg 3, 2019

“BÌNH BỒNG” CÓ PHẢI TỪ LÁY?

Cảnh bèo lưu lạc, trôi nổi trên mặt nước
Ảnh: St
HOÀNG TUẤN CÔNG

Sách “Từ điển từ láy tiếng Việt” (Viện Ngôn ngữ học - Hoàng Văn Hành chủ biên - NXB Khoa học xã hội, 2011), thu thập và giải nghĩa các từ láy:
- “BÌNH BỒNG đgt. (id.). Như bồng bềnh. “Họ vẫn bình bồng trên mặt nước” (VHọc)”.
- “BỒNG BỀNH tt. 1. Ở trạng thái trôi nổi khi lên khi xuống nhẹ nhàng trên mặt nước. Đám bèo trôi bềnh bồng trên sông. “Cánh bèo nhỏ bồng bềnh trên sóng biếc”. 2. Trông như những cục bông xốp nhẹ, có thể thổi bay lên. Mái tóc bồng bềnh. “Bản em trên chóp núi, Sớm bồng bềnh trong mây” (Nguyễn Thái Vận)”.