11 thg 1, 2016

Thành Tây Đô với hương Đại Lại - làng quê Hồ Quý Ly


           
Một đoạn thành Nhà Hồ
                                             Ảnh: ST
                                                                                        Hoàng Tuấn Phổ

Gia đình Lê Huấn đến ở Đại Lại đã lâu đời. Bấy giờ Đại Lại, đơn vị hành chính gọi là Bái Nại sách, cùng với An Tôn động chung một vùng đất. Đời Tiền Lê hoặc Lý đổi tên trang Bái Nại, tiếp đến nhà Trần mới thành hương Đại Lại. Thế đất Đại Lại đẹp, núi non tầng tầng lớp lớp quây lại như mâm xôi, như âu vàng, chén ngọc, thung lũng bằng phẳng, rộng dài, sông lớn lượn quanh, ôm vòng, tạo nên thành trì bền vững muôn đời. Đồng ruộng tươi tốt, núi non xanh um cây cối, sản vật dồi dào, nổi tiếng đất lành chim đậu, dân cư đông đúc, yên nghiệp làm ăn.


Họ Lê ở Đại Lại, khoảng đời Trần Thánh tông mới có Lê Huấn làm chức quan Tuyên úy. Bấy giờ, Hồ Liêm ở Diễn Châu, Nghệ An, nghe tiếng Tuyên úy Lê Huấn, xin di cư ra Đại Lại, làm con nuôi, đổi họ Hồ làm họ Lê – Lê Liêm. Theo Đại Việt sử ký toàn thư khởi tổ họ Hồ (Hồ Liêm) là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang, Trung Quốc, sang nước Nam làm Thái thú Diễn Châu, sau ở hương Bào Đột xưng trại chủ. Hồ Liêm là cháu đời thứ 12 của Hồ Hưng Dật, di cư đến Đại Lại để tránh cái vạ Trần Thủ Độ “nhổ cỏ nhổ tận gốc”, vì nhà họ Hồ đời Lý có người lấy công chúa Nguyệt Đích sinh ra Nguyệt Đoan. Vai trò con nuôi với tên Lê Liêm đã giúp ông che giấu tông tích, ẩn nhẫn đợi thời. Truyền đến đời thứ ba, gia đình Lê Liêm đưa được hai người con gái tiến cung làm thiếp yêu của Trần Minh tông. Đó là hai cô ruột của Lê Quý Ly. Qua cây cầu bắc vô cùng quan trọng này, Quý Ly dễ dàng bước vào cung vua Trần, từ nhỏ làm chân hầu hạ (nội nhân), thăng lên chi hậu nội nhân rồi chi hậu tứ cục chánh chưởng. Đời vua Nghệ tông, Quý Ly nhảy một bước lên Khu mật đại sứ, thăng Tiểu Tư Không, tiến phong Đồng bình chương sự (Tể tướng), rồi gia phong tới chức Phụ Chính Thái sư nhiếp chính, Khâm đức Hưng liệt Đại vương, Quốc tổ Chương hoàng, khiến các đại thần đương triều, kể cả giới quý tộc nhà Trần không khỏi choáng váng, giật mình.

Vua Nghệ tông mất, Thuận tông nối ngôi. Năm 1399, Quý Ly buộc Thuận tông phải nhường ngôi cho Thái tử Án con đẻ công chúa Huy Ninh, cháu ngoại Quý Ly. Thuận tông bị giết rồi Thái tử Án cũng chết, sau khi Quý Ly lên ngôi Hoàng đế (1400) ! Ông tuyên bố bỏ họ Lê trở lại họ Hồ gốc tổ.

Để chuẩn bị việc cướp ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly đã sai Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh xây thành Tây Đô ở động An Tôn liền kề hương Đại Lại. Đỗ Tỉnh rất giỏi về thiên văn địa lý, cũng là một kiến trúc sư tài năng. Đất An Tôn ba mặt núi, những hình tượng tự nhiên kỳ lạ: Voi quì, trâu nằm, ngựa chầu… Đằng trước trông ra sông Mã, có núi Đún làm bình phong. Động Kim Sơn án ngữ phía Tây, sông Bảo giang chắn ngang phía đông. Lại có núi Đại Lại làm hậu thuẫn… Đúng là thế đất trời dành cho họ Hồ. Nhưng đây là nơi “nên với loạn mà không nên với trị”. Điều này hoàn toàn hợp ý Hồ Quý Ly, vì ông cần xây dựng một đô thành để trị loạn, trấn áp kẻ phản loạn, nếu không, không thể trị quốc an dân.

Cổng phụ thành Nhà Hồ

                              Ảnh: ST

Tây Đô là kinh đô thứ hai của quốc gia Đại Việt sau Đông Đô. Quý Ly cho rằng mình là dòng dõi vua Ngu tức đời Nghiêu – Thuấn bên Trung Quốc, đổi quốc hiệu Đại Việt ra Đại Ngu.
Đất Tây Đô thời Hồ quy vào hương Đại Lại - làng quê vua Quý Ly. Họ Hồ cho xây dựng ở đây một số công trình văn hóa nghệ thuật giá trị: Cung Bảo Thanh, chùa Triệu Công, lầu Đấu Kê…

Cung Bảo Thanh
Cung Bảo Thanh xây dựng năm Đinh Sửu (1397), sau khi Hồ Quý Ly dời đô từ Thăng Long vào An Tôn, Vĩnh Lộc. Tòa cung điện đặc biệt này dành riêng vua Trần Thuận tông ở. Bởi nó xây dựng bên ngoài thành Tây Đô, sử cũ chép là “Hành tại”, có nghĩa nơi vua tạm ở khi đi ra ngoài Hoàng cung, đời sau mang tên Ly cung nhà Hồ. Tại đây, Thuận tông ban chiếu truyền ngôi cho Thái tử Án, phong Quý Ly làm Quốc tổ nhiếp chính, nhà vua ra Đông Triều (Quảng Ninh) tu đạo Lão rồi bị giết.

Cung Bảo Thanh, hay Hành tại Đại Lại có lẽ bị tàn phá từ 1407, sau khi quân Minh chiếm đóng thành Tây Đô. Nó được nhận diện những năm 1979, 1980, 1983, 1995, qua tài liệu khảo cổ học phát hiện từ đống đổ nát hoang tàn. Toàn bộ cung Bảo Thanh, trên bình diện khoảng 2 ngàn m2 giữa lòng hình tay ngai của núi Đại Lại về phái tây nam, cách sông Lèn chừng 1km. Nền chính tòa cung điện gần hai trăm m2 với những chi tiết chạm khắc còn thấy cho ta hình dung một công trình kiến trúc to lớn, lộng lẫy, nói lên trình độ nghệ thuật đặc sắc của thời đại Trần Hồ. Mỗi hòn đá chân tảng là một tác phẩm mỹ thuật rất đáng khâm phục. Bề mặt chân tảng chạm cánh sen, trong mỗi cánh sen chạm “lưỡng long triều nguyệt”. Vòng quanh bệ tảng, hoa văn trang trí hình dây leo uốn lượn đẹp mắt. Hình rồng trong từng cánh sen uốn khúc rắn mềm mại, uyển chuyển, thân nhỏ nhắn, cân đối, loại rồng rắn đã phát triển tới đỉnh cao nghệ thuật thời Trần. Hiện vật khá phong phú chủng loại là đầu rồng, đầu chim, đầu nghê sấu… Đầu rồng mào lửa có sừng, râu tóc mềm mại, mượt mà, mũi nở, trán cao, miệng rộng… Đầu chim phượng hoàng mỏ to khỏe, mắt đẹp tựa chim thần. Đầu nghê sấu trông giống như đầu sư tử, vẻ oai phong, thực ra không phải, nó là con vật huyền thoại trang trí trong kiến trúc cung đình và đền miếu. Những viên gạch bằng đất nung lát nền, ốp tường, nung chín ở độ cao, kích thước rộng tới 35cm x 35cm x 5cm, chính giữa mỗi viên một bông hoa 4 cánh to, nằm gọn trong khung vuông, có gờ chỉ nổi. Bốn góc mỗi viên gạch trang trí nổi bốn nửa bông hoa giống hoa cúc cách điệu. Loại gạch ốp tường trang trí hình rồng khá công phu đúc bằng khuôn nhưng sau đó gia công thêm, đường nét tinh xảo, sinh động… Ngoài ra còn những di vật khác cũng rất đặc sắc về nghệ thuật như lá đề đất nung, vv…

Chùa Triệu Công
Đó là tên chùa do Hồ Quý Ly đặt, với ý nghĩa một công trình kiến trúc kỷ niệm ngày bắt đầu gây dựng cơ nghiệp nhà Hồ. Họ Hồ còn đổi tên núi Đại Lại là núi Kim Âu. Đời Lê nhân tên núi Kim Âu gọi chùa Kim Âu, vì chữ Triệu Công không xứng đáng với họ Hồ. Sau lại đặt Phong Công tự - ngôi chùa tốt đẹp, khéo léo. Được nhiều người biết tới và khen ngợi là “Đề Kim Âu sơn Phong Công tự” của Võ Quỳnh (quê làng Mộ Trạch, Hải Dương, đỗ Hoàng Giáp 1478, làm tới Binh bộ Thượng thư, kiêm Tổng tài quốc sử quán, tác giả Việt giám thông khảo)

Phiên âm:       Hoang sơn nhật mộ tỏa nhàn vân
Kiệt các điêu lương yến ngữ xuân
Đa thiểu tầm phương yên tự khách
Chỉ hoài sơn thủy bất hoài nhân!

Bản dịch: Đề chùa Phong Công núi Kim Âu

Núi hoang mây phủ bóng chiều phai
Lầu vắng nên xuân én liệng hoài
Khách đến chùa xưa thăm viếng cảnh
Bởi yêu non nước, nhớ gì ai!

                                           (Hoàng Tuấn Phổ dịch thơ)

Làng Trần
Hương Đại Lại nhanh chóng phát triển thành một vùng quê trù phú, dân cư đông đúc, gồm nhiều làng xã, trung tâm là Chiềng Thôn tức Bái Nại trang xưa. Vua Trần Nghệ tông đổi Chiềng Thôn thành Trần Thôn. Nơi này còn lại một số dấu tích cổ liên quan đến Hồ Quý Ly như Vườn Hồ, Đường Hồ, Bãi Hồ, Mả Ông Voi, Chùa Trần…

Rồng đá khu vực thành Nhà Hồ

Ảnh: ST


Vườn Hồ: Tại đây, ông Hồ Liêm từ Diễn Châu, Nghệ An ra xin làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn, được làm nhà chung sống cùng gia đình. Cũng nơi này, Quý Ly chôn rau cắt rốn và cất lên tiếng khóc chào đời.

Đường Hồ: Lê Quý Ly lên ngôi vua, bỏ họ Lê, lấy lại họ Hồ. Quý Ly sai đắp một con đường lớn nối với Tây Đô để thỉnh thoảng vua xa giá về thăm nhà.

Chùa Trần: Xây dựng đời Trần, tên chính Phúc Linh tự. Tục truyền, Quý Ly lúc nhỏ được một nhà sư chùa Trần nuôi dạy chữ và võ nghệ. Năm Canh Tuất (1370) vua Trần Nghệ tông về Đại Lại tập hợp binh thuyền trên sông Lèn, chuẩn bị tiến quân ra Thăng Long dẹp loạn Dương Nhật Lễ, đã tạm trú ở chùa Trần. Sau khi phục quốc, Nghệ tông cho sửa sang lại chùa Trần, quy mô tráng lệ hơn xưa. Chùa Trần qua trùng tu nhiều lần. Năm 1901, tu sửa phật điện, tô tượng đẹp, đúc chuông lớn, xây lại tam quan… mười phần hoàn hảo. Khoảng năm 1945, chùa bị hư hỏng nhiều hạng mục, địa phương không có điều kiện sửa chữa, chẳng mấy chốc hóa thành đống gạch ngói hoang tàn. May mắn còn lại gác chuông rất đẹp, chứng tích duy nhất của một công trình kiến trúc nghệ thuật Phật giáo, có giá trị văn hóa – lịch sử khá lâu đời.

Cũng trong vùng hương Đại Lại xưa, hiện còn một số di tích thời Lý hoặc liên quan tới thời Lý. Cách chùa Trần không xa, đền thờ Lý Thường Kiệt và chùa Linh Xứng nổi tiếng cùng ở núi Ngưỡng Sơn, trông ra sông Lèn.

Sông Lèn xưa kia là một dòng lớn sông Mã, cũng mang tên Đại Lại, có bến Chiềng thuộc làng Chiềng tức làng quê Hồ Quý Ly – Trần Thôn. Khởi đầu những “Tiếng hò sông Mã” cất lên từ đây :
Sáng mai rời gót bến Trần
Đi lên Đầm, Sét, Hồi Xuân xế chiều.
                                                                                   (Hò rời bến)

Khi trở về bến Chiềng, con đò dọc đi qua vùng núi non cẩm tú của địa danh lịch sử Đại Lại:

Núi Chum, núi Ác qua rồi
Ngưỡng Sơn, núi Ốc đã ngồi kề bên.
                                                                           (Hò sắp đến bến)

Ngưỡng Sơn, núi Ốc đều là những danh sơn, thắng địa, những di tích văn hóa – nghệ thuật giá trị, những địa chỉ du lãm quen thuộc, mến yêu của du khách bốn phương.

                                                                                                  H.T.P/12/2015