18 thg 7, 2016

Sai sót nghiêm trọng trong "Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam" do NXB Đồng Nai ấn hành.

                                  HOÀNG TUẤN CÔNG

Sách "Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam (dùng cho học sinh, sinh viên)" của hai tác giả Thanh Long-Tường Ngọc (NXB Đồng Nai-2014). Có thể nói toàn bộ 575 trang, khổ 10x18, không lỗi này thì lỗi khác, rất hiếm những trang không sai sót. Sau đây, chúng tôi xin liệt kê sơ lược một số lỗi:

          1.GIẢI THÍCH SAI (phần gạch đầu dòng trong ngoặc kép là nguyên văn từ điển; phần xuống dòng tiếp theo là ý kiến trao đổi của chúng tôi):

          -"Biết ngứa đâu mà gãi. Không biết việc sẽ tới ra sao để ngừa trước cho khỏi hư việc, lời nói để tránh trách nhiệm của người không biết phòng xa"
          Thực ra, ý tục ngữ là: Không biết ý muốn, nhu cầu cụ thể của người khác thế nào, nên rất khó đáp ứng, khó chiều lòng.


          -"Cà cuống chết đến đít còn cay: Chết rồi mà tiếng còn để đời".
          Nghĩa bóng dân gian nói thái độ, hành động ngoan cố, bảo thủ; cay cú, chống đối đến cùng, ngay cả khi đã thất bại.

          -"Chó chê cứt nát: Dễ chê hôn (sic), (nó mà chê thì không khác gì chó chê cứt nát)//(B) Không ăn khi bụng đã no, không nhận khi đã có thừa."

          Không đúng. Nghĩa bóng của của thành ngữ là: Kênh kiệu, đài các không phải kiểu; Không biết thân phận mình. Đồng nghĩa: "Kẻ cắp còn chê vải hẹp khổ; Vịt chê thóc lép không ăn"...

          -"Đĩ khóc, tù van, hàng xáo kêu lỗ, thế gian sự thường: Lâu lâu, phải có một năm mất mùa, lúa cao gạo kém, thiên hạ đói khổ, đó là lẽ thông thường xưa nay//Lúc kinh tế khủng hoảng, làm ăn không được, phần nhiều ai cũng khổ sở cả".

          Giảng nghĩa theo kiểu suy diễn, thiếu căn cứ. Tục ngữ nói: nên cảnh giác, đừng ngạc nhiên, mắc lừa đối với những lời kêu ca phàn nàn cửa miệng của một số thành phần trong xã hội, như đĩ điếm, tù tội, kẻ buôn gian, bán lận...

          -"Lợn lành chữa lợn toi: Nhà có heo bệnh phải bán heo lành mạnh chạy thuốc cho con bệnh, hoặc làm thịt để cúng vái".

          Trong thực tế không có chuyện bán "lợn lành" để lấy tiền chữa bệnh cho "lợn toi", càng không có chuyện mổ lợn để "cúng vái" (cầu cho lợn ốm khỏi bệnh). Nghĩa bóng của tục ngữ ám chỉ kẻ vụng về, vật dụng đang tốt, đem chữa thành hỏng; thầy thuốc chữa bệnh nhẹ thành bệnh nặng. Đồng nghĩa: "Bò lành chữa thành bò què"; Chẳng chữa thì sống, chữa thì kèn trống ra đồng."

          - "Mài mực ru con, mài son đánh giặc: Cảnh tao nhã của người hay chữ, một xã hội VẰN (sic) vật".

          Sai. Đây là kinh nghiệm mài mực và mài son: mực Tàu phải mài nhẹ nhàng như "ru con" mới cho mực tốt. Nguyên do: mực tàu mài mạnh tay cho nhanh, mực sẽ không mịn, sinh ra lắm hạt sạn nhỏ; khi viết ngọn bút bị xơ, nét bút không đẹp. Ngược lại, nếu mài nhẹ nhàng, êm ái (như “ru con” theo cách ví von của dân gian) mực trong thỏi sẽ ngấm dần, hoà tan, quyện với nước, cho một thứ mực mịn màng, sóng sánh, khi viết đầu bút chụm lại, bút lông có độ đàn hồi tốt và nét bút không bị xơ, cứng, mặt chữ bóng, đẹp. Thế nên, việc chọn đá làm nghiên mài mực cũng rất cầu kỳ. Nếu đá nhẵn quá, khi mài, thỏi mực cứ trơ trơ, trơn tuồn tuột. Nhưng nếu đá quá thô ráp, khi mài sẽ không cho được thứ mực mịn màng, sóng sánh. Đá tốt nhất là loại đá có độ ráp vừa phải, đủ để thỏi mực bào mòn từ từ, đảm bảo chất lượng mực. Thế nên, tục ngữ Hán có câu: "非人磨墨, 墨磨人-Phi nhân ma mặc, mặc ma nhân -Không phải người mài mực, mà mực mài người"; "墨是可已磨濃的-Mặc thị khả dĩ ma nùng đích-Mực mài lâu mới đậm". Nghĩa là mài mực cũng là một khổ công, phải mài nhẹ nhàng, mài rất lâu mới ra được thứ mực tốt.

Còn đối với mài son, xưa kia, người ta thường lấy các loại đá có màu đỏ trong tự nhiên để làm son, rất rắn. Tuy nhiên, son không yêu cầu mịn như mực, bởi thông thường người ta không dùng son để viết chữ, mà chủ yếu dùng để  phê, khuyên, đánh dấu hoặc đóng ấn, triện. Do đó, khi mài son được phép mài (và phải mài) mạnh tay mới được (mạnh mẽ như đi “đánh giặc” vậy).

          -"Miệng khôn, trôn dại: Nói nhiều câu phạm thượng đến phải bị đòn bụng đau đớn".

          Không đúng. Tục ngữ nói đến hạng đàn bà, con gái, ăn nói thì có vẻ khôn ngoan, nhưng thực tình lại nhẹ dạ cả tin, dễ sa ngã.

          -"Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi Trong nhà, có đánh vợ rầy con (mưa gió) thì cũng trong giây lát rồi thôi, để trên thuận dưới hoà mà lấy lại nếp sống bình thường, chớ không nên kéo dài suốt ngày, đến bỏ bữa ăn trưa (khoảng giờ ngọ) và giấc nghỉ trưa (khoảng giờ mùi) không vậy, sự bất hoà sẽ khó bề hàn gắn."

  Suy diễn buồn cười, vô căn cứ. Đây là kinh nghiệm đoán biết thời tiết. Vế một: nếu cơn mưa bắt đầu từ buổi sáng thì thường không kéo dài quá trưa [Dị bản: "Mưa không qua Ngọ, gió chẳng qua Mùi". Tục ngữ gần nghĩa: Sáng ướt áo, trưa ráo thóc; Sáng mưa, trưa tạnh; Sáng mưa, trưa nắng; Mưa sáng mai, mài rựa đi rú]. Câu nói quen thuộc trên các bản tin dự báo thời tiết "trưa chiu giảm mây trời nắng" chính là phản ánh quy luật của những cơn mưa sáng. Thế nên, tục ngữ Tày cũng có các dị bản gần nghĩa: "Mưa sớm thì ở nhà giặt chăn" [Phân dạu giú rườn rắc và]; "Mưa buổi sớm thì thóc đổ ra phơi ở dàn." [Phân dạu khẩu thác dàn], đu có nghĩa: mưa buổi sáng thì trưa sang chiu sẽ tạnh nắng, nên vẫn còn thời gian phơi chăn, phơi thóc. Hay tục ngữ Việt gốc Hán: "Vũ bất quá Ngọ-雨不過午-Mưa thường không kéo dài quá giờ Ngọ".
 Vế hai: "gió không qua Mùi", thì "gió" đây là gió mùa đông bắc: sáng sớm gió thổi mạnh hun hút qua buổi trưa, nhưng đến nửa chiu thì sẽ lặng [Có câu "Bấc lặng hôm, nồm lặng mai" là vậy]. Giờ Mùi là từ 13 đến 15 giờ, ai còn "nghỉ trưa" nữa?

Vô số lỗi trong từ điển


          2.DÙNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG, PHÁT ÂM CỔ, RẤT KHÓ HIỂU:

          "Bắt chuột không hay, hay ỉa bếp: Người kém hoạt động, không LAU LÁCH, chỉ LÚC THÚC trong nhà"; "Bồ dục chấm nước cáy: XẲNG LÈ, cách nói năng cộc cằn thô lỗ"; "Liên HƯỜN kế" [HOÀN]; "Bạt sơn cử ĐẢNH" [ĐỈNH]; "Chuyện lỡ rồi" [ĐÃ], "chó RƯỢN cái"; v.v...

          3. KHÔNG PHẢI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ:

          Từ điển thu thập rất nhiều những từ, ngữ không thải thành ngữ tục ngữ. Ví dụ: "Phát triển cộng đồng"; "Cảm giác nhận thức"; "Cảm giác tác dụng"; Cảm giác thần kinh"; "Cảm giác tri thức"; "Lãnh sự tài phán"; "Lễ cầu thân"; "Lễ đại liệm"; "Lễ đại tường";"Lễ động quan"; "Lễ hạ rộng"; "Lễ yết tổ"; "Lễ khao vọng"; "Lễ mở cửa mả"; "Lễ nhập quan"; "Lễ tiểu tường"; "Lễ vấn danh";  Nhiều từ như "bắn sẻ"; "bích hoàn"; "bích huyết"; "dạy con".v.v... vốn xuất phát từ điển cố, điển tích của Tàu, chứ không phải thành ngữ, tục ngữ.
          Sách có tên "Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam", nhưng chúng tôi không thấy một bài ca dao nào, ngoài một vài câu kiểu như: "Tiếc thay hạt gạo trắng ngần, Đã vo nước đục lại vần than rơm". Tuy nhiên, đây là tục ngữ mang hình thức ca dao, chứ không phải ca dao (Dị bản đồng nghĩa: "Hoài hồng ngâm cho chuột vọc"; "Hoài cành mai cho cú đậu"). Vả lại, người ta chỉ làm "tuyển tập ca dao" chứ không ai làm "từ điển ca dao" cả.  

          4. SAI CHÍNH TẢ: Dấu "ngã", thành dấu "hỏi", ngoặc ngược lại: "Cày sâu cuốc BẪM" thành "cuốc BẨM"; "MÃNH hổ nan địch quần hồ" thành "MẢNH hổ... "; Mâm cao CỖ đầy" thành "CỔ đầy"; "VIỄN chinh" thành "VIỂN chinh"; "MỠ để miệng mèo" thành "MỞ để...",v.v...

          5.LỖI VĂN BẢN TRẦM TRỌNG: (Phần in nghiêng trong ngoặc kép là nguyên văn từ điển. Chữ viết hoa trong ngoặc [...] do chúng tôi đính chính).

          "Ăn chực đòi ĐÁNH chưng" [BÁNH]; "BẠCH bể nương dâu" [BÃI]; "BÓC ra ma" [BÓI]; "BÓC nơi khố bện, đãi nơi quần hồng" [BÒN]; "BÚT không ăn mày ma" [BỤT]; "BỤC chỉ cổ tay" [BUỘC]; "BỮA mắt bắt chim" [BƯNG]; "Biển thánh, rừng NHU" [NHO]; "Cha mẹ cú ĐỂ con tiên" [ĐẺ]; "Cha mẹ NGÀNH đi con dại" ["NGOẢNH]. "Chẳng được ăn cũng LAY lấy vốn" [LĂN]; "DƯỚI chất hổ bì" [DƯƠNG]; "Đĩ GIÁC lấy chồng quận công" [RẠC]; "Rồng RÔNG theo NỌ" [Rồng RỒNG theo NẠ]; "Già sanh tật, đất SẢNH cỏ" [SANH]; "KÉN cày trả nợ" [KÉO]; "Khẩu TUNG tâm SUY" [Khẩu TỤNG tâm DUY]; "KHỔ son bòn khố nâu" [KHỐ]; "Làm CÁCH sạch ruột" [KHÁCH]; "Làm CỎ không lo mất phần" [CỖ]; "Làm CỎ sẵn cho người ăn" [CỖ]; "Làm giàu có số, ăn CỎ có phần" [CỖ]; "Kiếp trâu ăn CÓ" [CỎ]; "Cao BIỂN dậy non" [BIỀN]; "RẰM mồng năm" [RẮN]; "RÁO quan viên" [RÉO]; "Mình ốc không rửa, còn mang cục KÊU" [RÊU]. "Thần vong CHỈ hàn" [XỈ]; "Phú quý như BÙN vân" [PHÙ]. "BẮC bất ba đào dị nịch nhân" [SẮC]; "MƯA thẳng mất lòng cây gỗ cong" [MỰC];...

          Có những thành ngữ, tục ngữ bị viết sai, nhưng vẫn có nghĩa, khiến học sinh, sinh viên rất khó phát hiện: "Bệnh QUÝ có thuốc tiên" [QUỶ]; "Được voi đòi TIỀN" [TIÊN]; "Mất cả chì lẫn CHÀY" [CHÀI]; "Gông ĐỒNG tróng mang" [ĐÓNG]; "Nắng chóng MƯA, mưa chóng tối" [TRƯA]; "Toạ thực sơn BẰNG" [BĂNG]; "Làm hàng săng chết BỎ PHIẾU" [BÓ CHIẾU]; "Mài SẮC nên kim" [SẮT]; "Huynh đệ như thủ TỤC" [TÚC]; "Cà cuống LỘN ngược" [LỘI]; "Ma ăn CỎ: Việc âm thầm sai quấy: Ai biết đâu chỗ ma ăn CỎ ấy" [CỖ]; "Sứa nhảy HOA đăng" [QUA]; "Khẩu THỊT tâm phi" [THỊ]; "Nói như VẠT miếng thịt" [VẠC]: "Thanh cậy thế, Nghệ cậy THẦY" [THẦN]...

          Phần diễn đạt cũng sai rất nhiều. Ví dụ: "KẺ dại" thành "KỂ dại" (tr173); "RƯỢT bắt" thành "RƯỢU bắt" (tr111); "MẠ già" thành "MẸ già" (tr135); "CHẬM rãi" thành "CHẪM rãi" (tr195); "GIÁC cây GỤ" thành "GIĂM cây GÕ" (209); "ngạo MẠN" thành "ngạo MẠNG"; "HUƠ đao" thành "HUƠI đao" (tr.203); "lỗ TRÔN" thành "lỗ TRỐN"; "NGƯ phủ" thành "NGU phủ" (tr.211).

          Ngoài ra, toàn bộ các ký hiệu, chữ viết tắt trong từ điển không hề có phần hướng dẫn sử dụng.

          Những lỗi trên, chúng tôi chỉ mới sơ lược liệt kê đến trang 279/tổng số 575 trang. (Ví như các trang 164-165 phạm tới 12 lỗi, nhưng chúng tôi chỉ mới nêu ra 2 lỗi). Theo chúng tôi, chỉ riêng sai sót về khâu chế bản, cuốn từ điển này đã đáng bị thu hồi. Đáng chú ý, đây không phải là lần đầu tiên NXB Đồng Nai cho xuất bản, lưu hành sách và từ điển kém chất lượng(*).

                                                        Hoàng Tuấn Công/7/2016

          (*)-Chúng tôi từng có bài viết chỉ ra những sai sót nghiêm trọng trong sách "Tônvinh những người cong làm rạng danh trong các dòng họ nổi tiếng Việt Nam" (NXB Đồng Nai-2014); "Phát hiện từ điển Tiếng Việt do môn đồ cụ Vũ Chất biênsoạn" (tức "Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh"-Khắc Trí-Trọng Tấn-NXB Đồng Nai-2012), trong đó, cuốn thứ hai sau đó đã bị Cục xuất bản thu hồi.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét