5 thg 1, 2017

“TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT” CỦA NXB THANH NIÊN: “GIAO PHỐI” nghĩa là “KẾT HÔN”!


         
Ảnh: HTC
                 HOÀNG TUẤN CÔNG

Đó là định nghĩa của “Từ điển tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh - sinh viên” (tác giả Ngọc Hằng - Kỳ Duyên - NXB Thanh Niên, 2016).

          Bìa sách, ngoài dòng chữ nhái “Trung tâm từ điển học”, còn có những thông tin rất hấp dẫn, như: “Cập nhật nhiều mục từ mới”, “Nhiều hình ảnh minh hoạ”, sách “Bán nhiều nhất”...

          Vậy, sách này “cập nhiều mục từ mới” như thế nào?

          Xin thưa rằng hoàn toàn ngược lại. Nghĩa là rất nhiều từ cũ, từ dùng sai cách đây ngót một thế kỉ, đã được nhóm tác giả này “khai quật”, sao chép lại để “dành cho học sinh- sinh viên”. Sau đây là ví dụ về một số cái sai của Nhóm Kim Danh - Ngọc Hằng (KDNH). Chúng tôi sẽ lấy chính cách giảng nghĩa của “Từ điển tiếng Việt” (Vietlex) do Trung tâm Từ điển học (The Lexicography Center – Vietlex) biên soạn (cuốn từ điển này bị Nhóm KDNH làm nhái, chúng tôi sẽ nói rõ ở phần sau), để chỉ ra những sai sót của KDNH (phần ví dụ của Vietlex, chúng tôi xin lược bớt):


- KDNH: “ba ba (dt) Rùa nhỏ ở nước ngọt, có mai dẹp phủ da, không vảy”.

          Không đúng, ba ba có thể còn to hơn cả rùa. Vietlex: “ba ba d. động vật thuộc họ rùa, sống ở nước ngọt, mai không có vảy mà được phủ bằng lớp da mềm, bơi nhanh, lặn được lâu”.

- KDNH: “bánh lái dt Bộ phận hình tròn để cầm lái tàu, xe”.

          Đây là nghĩa cũ, hiện nay không còn được dùng. Vietlex: “bánh lái d. bộ phận xoay được dùng để đổi hướng đi của phương tiện vận tải”.

- KDNH: “bệnh hoạn dt Bệnh tật và hoạn nạn”.

          Giảng thiếu nghĩa, dễ dẫn đến lầm lẫn. Vietlex: “bệnh hoạn 病患 I d. [id] trạng thái bị đau ốm, bệnh tật [nói khái quát]. Đn: bệnh tật, tật bệnh. 病患 II t. 1 ở trạng thái có bệnh thường kéo dài. 2 [tư tưởng, tình cảm] không được bình thường, không lành mạnh”.

- KDNH: “bò sát 1 tt Bò sát bụng xuống đất; 2.Loài bò sát (rắn, thằn lằn)”.

          “Bò sát” ở nghĩa 1 là cụm từ (ngữ động từ - động ngữ), không phải đơn vị từ vựng. Vietlex: “bò sát d. lớp động vật có xương sống, thở bằng phổi, chuyển dịch bằng cách bò sát đất, gồm rùa, thằn lằn, rắn, cá sấu, v.v.”.

- KDNH: “bút ký dt. Lời ghi viết bằng tay”.

          Vậy viết bằng bàn phím (máy tính), không được gọi là “bút kí” sao? Vietlex: “bút kí 筆記 d. thể kí ghi lại những điều tai nghe mắt thấy, những nhận xét, cảm xúc của người viết trước các hiện tượng trong cuộc sống”.

- KDNH: “cánh kiến dt Cánh con kiến”.

          “Cánh kiến” với nghĩa như vậy coi như chưa định nghĩa. Vietlex: “cánh kiến d. 1 côn trùng cánh nửa cỡ nhỏ, sống thành bầy trên cây, tiết ra một chất nhựa màu đỏ thẫm, dùng để gắn. 2 chất do con cánh kiến tiết ra. Đn: cánh kiến đỏ”.

- KDNH: “công nhân dt. Nói chung những người lao động chân tay”.

          Nếu vậy thì “công nhân” khác gì nông dân? Vietlex: “công nhân 工人 d. người lao động chân tay làm việc ăn lương, trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường, v.v.”.

- KDNH: “công quyền Quyền của người dân trong một nước, quyền công dân”.

          Giảng nghĩa phiến diện. Vietlex: “công quyền 公權 I d. [cũ] các quyền của mọi công dân [nói khái quát] • 公權 II t. thuộc về bộ máy, cơ quan quyền lực nhà nước”.

- KDNH: “định tỉnh dt Thăm hỏi sức khoẻ của cha (thần hôn định tỉnh).

          Vậy, thăm hỏi sức khoẻ của mẹ không được gọi là “định tỉnh” hay sao?

- KDNH: “đô thị dt Thành phố nơi có tụ họp người buôn bán lớn”.

          Đây là cách giảng nghĩa quá cũ (copy từ “Việt-Nam tân từ-điển” của Thanh Nghị). Cũng không thể dùng từ đồng nghĩa “thành phố” để định nghĩa cho “đô thị”. Vietlex: “đô thị 都市 d. nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp. Đn: thành phố, thành thị”.

- KDNH: “đội ngũ dt Nói chung về hàng ngũ trong quân đội”.

          Giảng nghĩa què cụt. Vietlex: “đội ngũ 隊伍 d. 1 khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng có quy củ. Đn: hàng ngũ. 2 tập hợp một số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp”.

- KDNH: “eo éc tt Tiếng gà kêu”.

          Không có con gì kêu “eo éc”; nếu “eo óc” phải là tiếng gà gáy, chứ không phải “gà kêu”.
- KDNH: “ga xép (dt) Ga xe lửa nhỏ, các tàu không đỗ”.

          Nếu đúng như vậy, thì người ta làm ra ga xép để làm gì? Vietlex: “ga xép d. ga xe lửa nhỏ, dành cho tàu chậm hay tàu chợ, các tàu tốc hành không đỗ”.

- KDNH: gái dt Người thuộc về giống cái”.

          Cách diễn đạt cũ, rất thô. Vietlex: “gái d. 1 người thuộc nữ giới [thường là còn ít tuổi; nói khái quát]; phân biệt với trai. 2 [kng] người phụ nữ [hàm ý coi khinh] : mang tiền cho gái ~ mê gái ~ theo gái”.

- KDNH: “gấm vóc dt. ngb. Hai thứ này dệt bằng lụa tơ tằm”.

          Từ này thường được dùng theo nghĩa bóng, chứ không phải nghĩa đen. Vietlex: “gấm vóc d. [vch] gấm và vóc, hai thứ hàng dệt đẹp và quý; thường dùng để ví vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước”.

- KDNH: “gian dâm đt. Đi lấy vợ người ta”.

Giảng như vậy, có nghĩa là “cướp vợ” người ta, chứ đâu phải “gian dâm”? Vietlex: “gian dâm 奸淫 đg. có quan hệ tình dục bất chính, lén lút với nhau”.

- KDNH: gian phu dt. Người đàn ông có vợ còn đi lấy vợ người khác”.

Đây cũng không phải là nghĩa của “gian phu”. Vietlex: “gian phu 奸夫 d. [cũ] người đàn ông thông dâm với người đàn bà đã có chồng”.

- KDNH: “giao phối đt. Kết hôn”.

          Đây là nghĩa mà một số từ điển biên soạn trước 1975 có giảng (*). Tuy nhiên, hiện nay, “giao phối” được hiểu là hoạt động tính giao của động vật đực, cái, chứ không dùng cho người, càng không có nghĩa là “kết hôn”. Vietlex: “giao phối 交配 đg. như giao cấu [không nói về người]”. Hán điển (zidic.net): giao phối: chỉ hoạt động tính giao giữa động vật đực và cái; sự kết hợp tế bào sinh thực ở thực vật với nhau.” (nguyên văn: 交配 jiāopèi [mating] 雌雄物性交; 植物的雌雄生殖胞相).

          Rất nhiều yếu tố Hán Việt, chỉ là yếu tố cấu tạo từ nhưng lại được nhóm biên soạn thu thập và giải nghĩa như một từ, trong khi nó không bao giờ được dùng độc lập. Ví dụ “am đt Hiểu biết”; “bộc dt Đầy tớ”; “điệp Dò la”; “điệt dt Cháu đối với chú hay bác”, v.v. Chẳng ai có thể hiểu được nội dung thông báo trong các phát ngôn: “Ông ấy là người am. Nó là bộc. Quân địch đang điệp.” nếu chiểu theo cách xử lí của hai tác giả Ngọc Hằng và Kỳ Duyên. Nhiều cách viết cũ, như: “cọng đồng, cọng sự, cọng tác”, v.v. vẫn được thu thập. Nhìn chung, các tác giả không có kiến thức về từ điển học.

          Sách giới thiệu có “Nhiều hình ảnh minh hoạ”, nhưng minh hoạ sai nhiều. Ví dụ:

- Mục “anh vũ dt. Giống chim vẹt”, nhưng hình minh hoạ lại là con chim gì đó gần giống chim sáo (mỏ không khoằm).

- Mục “diếp dt. Loại rau dùng ăn sống, còn gọi là rau sà lách”, có hai cái sai: thứ nhất, rau diếp không phải là tên gọi khác của xà lách; thứ hai, nói về rau diếp, “sà lách”, nhưng hình minh hoạ lại là rau dấp (hoặc diếp cá), lá giống lá trầu không, nở bông như bông kê.

- Mục “chim ưng”, minh hoạ và chú thích là “chim ưng”, nhưng hình vẽ lại là loài đại bàng đầu trắng.

- Mục “vạc”, minh hoạ con vạc, nhưng thực chất là cò, hoặc diệc vì cổ dài ngẳng, có túm lông dài trên đầu (trong khi vạc cổ to và ngắn).

- Mục “nụ” vẽ và chú thích “nụ hoa”, nhưng hình lại là một bông hoa đã nở bung hết cánh, thấy rõ cả nhị và nhuỵ.

- Mục “thằn lằn” minh hoạ “con thằn lằn”, nhưng lại là con tắc kè hoa, bụng to, mình ngắn, v.v.

          Vậy Ngọc Hằng - Kỳ Duyên là ai mà biên soạn từ điển cẩu thả đến vậy?

          Trên báo Nông Nghiệp Việt Nam (1/12/2015), bài “Nhiều sai sót trong Từ điển tiếng Việt” (NXB Từ điển Bách khoa), chúng tôi đã từng chỉ ra những cái sai nghiêm trọng của hai tác giả Kim Danh - Ngọc Hằng. Ví dụ: “bói toán (đgt) Xem bói bằng phương pháp toán học”; “làm dâu (đgt) Lấy chồng ở chung nhà với cha mẹ chồng”; “tội danh (dt) Tội rất nghiêm trọng, cả về mặt pháp luật và đạo đức”, v.v. Để kết thúc bài báo, chúng tôi có viết: “Đáng chú ý, “Từ điển tiếng Việt” (phổ thông và dành cho học sinh) của Nhóm tác giả thường thay tên đổi họ dưới các bút danh Kim Danh - Ngọc Hằng; Kim Anh - Ngọc Hằng; Kỳ Duyên - Ngọc Hằng - Đức Bốn... được Nhà xuất bản Thanh Niên, Nhà xuất bản Đồng Nai phát hành rất nhiều và cũng rất nhiều sai sót. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một bài viết khác”.

Từ điển khổ nhỏ của NXB Thanh Niên
do Nhóm tác giả thường thay tên đổi họ,
làm nhài từ điển của Viện ngôn ngữ, hoặc Trung tâm từ điển học Vietlex
Sách bày bán nhiều ở các nhà sách Thành phố Thanh Hoá.
Ảnh: HTC


          Khi chúng tôi chưa kịp “trở lại vấn đề”, thì nhóm tác giả này và NXB Thanh Niên đã “trở lại” dưới bút danh Ngọc Hằng - Kỳ Duyên, với những cái sai mới, nghiêm trọng hơn.

          Trước đây, Nhóm tác giả này thường trương mấy chữ “Ngôn ngữ Việt Nam” lên đầu trang bìa, khiến người mua nhầm lẫn từ điển do “Viện ngôn ngữ học” biên soạn. Đây là kiểu cố tình lập lờ đánh lận con đen, bởi đã là “Từ điển tiếng Việt”, thì không phải “Ngôn ngữ Việt Nam” thì là gì? Sau nhiều vụ bê bối trong biên soạn và xuất bản từ điển tiếng Việt, kiểu làm nhái thương hiệu này bị phản đối, thì Nhóm biên soạn Ngọc Hằng - Kỳ DuyênNXB Thanh Niên lại “lập lờ”, làm nhái một cái tên có uy tín khác, đó là “Hội ngôn ngữ học”, hoặc “Trung tâm từ điển học” (vốn có tên chính thức là “Trung tâm Từ điển học – Vietlex” do GS Hoàng Phê sáng lập). Cụ thể, “Từ điển tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh - sinh viên” phía trên cùng bìa 1, ghi “Ngọc Hằng - Kỳ Duyên, Trung tâm từ điển học”. Một cuốn khác (cũng do NXB Thanh Niên ấn hành), ghi “Kỳ Duyên - Đăng Khoa, Hội ngôn ngữ học”. Không rõ “Trung tâm từ điển học” của các vị Ngọc Hằng - Kỳ Duyên - Đăng Khoa là “Trung tâm từ điển học” nào? “Hội ngôn ngữ học” nào, ở đâu? Tên tuổi của các nhà “từ điển học”, mà sao giống như mượn tên con cái làm bút danh vậy?

          Đáng chú ý, 2 cuốn từ điển của NXB Thanh Niên có nội dung khác nhau (một cuốn 1090 trang, một cuốn 505 trang), nhưng đều có chung: “Giấy ĐKKHXB số: 293- 2015/CXB/888- 09/TN; Quyết định xuất bản số: 397/QĐ- TN/CN, in xong và nộp lưu chiểu tháng 1 năm 2016”. Nhóm tác giả và NXB Thanh Niên thường thay tên, đổi họ, xào xáo nội dung để xuất bản sách với nhiều phiên bản khác nhau, nên có cuốn ngoài bìa 1 ghi tác giả là “Kỳ Duyên - Đăng Khoa, Hội ngôn ngữ học”, nhưng bìa trong lại thành “Ngọc Hằng - Kỳ Duyên”(!)

          Dù biên soạn rất cẩu thả, nhiều sai sót nghiêm trọng như vậy, nhưng bìa từ điển vẫn ghi là “bán nhiều nhất”. Đây có lẽ không phải là lời hư trương của NXB Thanh Niên. Bởi từ điển này khổ nhỏ, nhằm vào nhóm độc giả đông đảo là “học sinh, sinh viên”, giá cả rất vừa túi tiền (từ 30 ngàn đồng, đến 50 ngàn đồng/cuốn).

          Trên đây chỉ là những sai sót mà chúng tôi lược trích thuộc phần chữ cái từ A đến G. Phần còn lại từ H đến Y cũng nhiều sai sót nghiêm trọng không kém, nhưng trong khuôn khổ một bài báo, chúng tôi không thể nêu hết. Điều đáng nói là Nhóm biên soạn “Kỳ Duyên - Ngọc Hằng - Đăng Khoa” và NXB Thanh Niên còn xuất bản cả từ điển chính tả tiếng Việt rất nhiều sai sót. Chúng tôi sẽ có bài viết riêng về cuốn từ điển chính tả này.

                                                Hoàng Tuấn Công/5/1/2017


(*). Ví dụ: "Hán Việt từ điển" (Đào Duy Anh); "Việt Nam tự điển" (Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ hiệu đính); "Từ điển Việt Nam phổ thông" (Đào Văn Tập); "Việt Nam tân từ điển" (Thanh Nghị).