24 thg 12, 2016

SAO LẠI "THÀNH KÍNH PHÂN ƯU"?

Dòng chữ "kính viếng" thường thấy, nay đã được thay
bằng "Thành kính phân ưu"
Ảnh: ST
             HOÀNG TUẤN CÔNG

Trên mạng xã hội, mỗi khi gửi lời chia buồn tới bạn bè có người thân mới mất, nhiều người thường viết: “Thành kính phân ưu!”; hay “Thành kính chia buồn!”. Ngoài đời, những dòng chữ này còn được viết lên các dải băng gắn trên vòng hoa viếng người đã khuất.

          “Phân ưu” 分憂 là từ Việt gốc Hán [ = chia; = lo, buồn], đối dịch là “chia buồn”, cũng là nghĩa từ vựng của từ này. Tuy nhiên, các nhà biên soạn từ điển vẫn có sự khác nhau trong cách giải nghĩa:


          - Từ điển tiếng Việt (Vietlex) giải thích: phân ưu 分憂 đg. [trang trọng] chia buồn với gia đình có tang : “Quan phủ và quan Bố xin cáo thoái ra về, sau khi có vài lời phân ưu theo thói quen.” (Vũ Trọng Phụng)”.

          - Từ điển từ và ngữ Việt Nam (GS Nguyễn Lân): “phân ưu đgt (H. ưu: lo buồn) Chia buồn với gia đình mới có tang: Phân ưu cùng người bạn mới mất vợ”.

          Tuy nhiên, “phân ưu” vốn không được dùng (và thực tế không chỉ dùng) với nghĩa cụ thể là “chia buồn với gia đình có tang”.  Sau đây là cách giải nghĩa chính xác của một số từ điển:

          -“Hán điển” (zidic.net) giải thích “phân ưu” 分憂 là: “chia sẻ nỗi lo buồn với người khác, giúp đỡ người khác vượt qua khó khăn, hoạn nạn; như “Vị quốc phân ưu”. (分憂: 分擔別人的憂慮,幫助別人解決困難; 為國分憂).

          “Từ điển Hán-Việt” (Phan Văn Các chủ biên-2014): “[分憂] fēn// yōu Chia sẻ nỗi lo lắng/giúp giải quyết khó khăn: 分憂解愁 - phân ưu giải sầu - Chia lo, giải sầu/chia sẻ nỗi lo âu. 為國分憂 - vị quốc phân ưu - Chia sẻ nỗi lo vì đất nước”.

          - Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ hiệu đính): “phân ưu • đt. Chia sớt sự buồn rầu với người ta, lời xã-giao : Tỏ lời phân-ưu”.

            - Từ điển Việt Nam phổ thông (Đào Văn Tập): “phân-ưu • Chia buồn <> gởi lời phân-ưu cùng tang-quyến”.

           - Từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên): phân ưu • Chia buồn (cũ) <> Phân ưu cùng gia đình có tang”.

          Vì “phân ưu”, hay “chia buồn” không chỉ dùng cho chuyện tang ma, nên người ta vẫn nói xin chia buồn với ông (bà, anh, chị...) trước một tai nạn, hay tổn thất về tài sản nào đó. Bởi vậy, Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ hiệu đính) mới giải nghĩa “chia buồn” với nghĩa khái quát là: “Chịu một phần buồn-rầu với người có việc buồn. Xin chia buồn cùng tang-quyến”.

          Trở lên là chuyện của từ điển.

           Về phương diện ngôn ngữ và đời sống, cách nói “Thành kính phân ưu”; “Thành kính chia buồn”, là không đúng. Dường như có sự nhầm lẫn giữa “thành kính” (thành tâm và kính cẩn) với “chân thành” (thành thật, xuất phát tự đáy lòng).

          Người xưa có câu “tử giả vi thần” 死者為神, (người chết thành thần). Chữ “thần” ở đây không phải là thần thánh, thần phật, mà là quỷ thần (tức hồn ma, linh hồn của người chết). Người đã hoá thành “ma”, thì dù già trẻ thế nào, đều được “người trần mắt thịt” dùng chữ “kính” (không chỉ kính cẩn mà còn là kính sợ, không dám sơ suất)... Ví dụ trong “Thiên Nam ngữ lục” (khuyết danh), chữ “kính” được gắn với “kính điếu” (kính viếng): Trạnh lòng kính điếu anh hùng, Ngâm thơ đường luật dòng dòng tám câu.” Hay sự “thành kính” dành cho thần phật: “Thấy đền phủ nào thiêng, anh chị cũng đến tận nơi để lễ vái, thành kính kêu cầu.” (Lá ngọc cành vàng, Nguyễn Công Hoan )”. [dẫn theo Vietlex].  

 
Ảnh: ST
          Đáng chú ý, hiện nay nhiều người còn nhầm lẫn (hoặc đánh đồng) giữa “phân ưu” (hay “chia buồn”) với “viếng” hoặc “kính viếng”. Bởi vậy, hai chữ “kính viếng” ở dải băng gắn trên vòng hoa đám ma trước đây, đã bị thay bằng “thành kính phân ưu”, “thành kính chia buồn”. Nhưng, “phân ưu”, hay “chia buồn” là sự chia sẻ đau thương, mất mát, an ủi, động viên đối với người còn sống; còn vòng hoa là để viếng người chết, đó là điều không thể khác được. Vì nhầm lẫn, "phân ưu" với "kính viếng", nên có người còn viết, nói rằng: “Xin thành kính phân ưu và chia buồn cùng gia đình”(!)

          Chúng ta thấy rằng, ví dụ Quan phủ và quan Bố xin cáo thoái ra về, sau khi có vài lời phân ưu theo thói quen” mà Từ điển Vietlex trích từ tác phẩm “Người tù được tha” của Vũ Trọng Phụng, thì “vài lời phân ưu” đó là nói với người sống, chứ đâu phải với người chết? Người còn sống (gọi chung là “tang quyến”), gồm cả già trẻ, gái trai...thì chia buồn với tấm lòng chân thành là được, sao lại phải “thành kính chia buồn”?
Có thể lấy thêm ví dụ, bài điếu văn của Quốc trưởng Bảo Đại viếng Nguyên thủ tướng Trần Trọng Kim. Đoạn đầu bài điếu tỏ lòng thương tiếc, tình cảm của Quốc trưởng Bảo Đại đối với cụ Trần Trọng Kim; phần hai (phần cuối) là tỏ “lời phân ưu” cùng bà phu nhân và toàn gia:
Bà nguyên Thủ tướng,
Tôi đề lời phân ưu cùng bà và toàn gia. Tôi mong rằng lòng tiếc thương của hết thảy quốc dân đối với cố Thủ tướng sẽ làm cho bà nhẹ bớt một phần nào nỗi đau đớn về dịp này và sự nghiệp lâu dài của cố Thủ tướng sẽ làm cho bà được cái an ủi rằng sự nghiệp ấy còn cũng như là người chí sỹ khuất núi vẫn còn!”.(*)

          Đành rằng, việc “phân ưu”, “chia buồn” và “viếng”, “điếu tang” thường diễn ra cùng lúc. Đến “viếng” người chết, hay có mặt trong đám tang, đã là một cách chia buồn với người sống. Ngược lại, nói lời “phân ưu”, “chia buồn” với người sống, cũng là thể hiện lòng thương cảm đối với người chết. Tuy nhiên, khi nói và viết, tuỳ từng tình huống, phải phân biệt rạch ròi “chia buồn” (an ủi, chia sẻ nỗi đau với người sống) và “điếu”, “viếng” (dâng hương, bái lạy, thể hiện lòng thành kính, xót thương người đã chết). Ví như “Điện chia buồn” của Nhà nước Việt Nam là gửi Nhà nước và nhân dân Cuba, còn vòng hoa để viếng ông Fidel, chứ không thể có chuyện ngược lại).

          Như vậy, dù đã có từ “chia buồn” rất thông dụng, chính xác, giản dị, dễ hiểu, nhưng có người lại thích dùng “phân ưu”, “thành kính phân ưu” để thay thế (theo nghĩa "trang trọng" mà Từ điển Vietlex đã chú thích); đang viết “viếng”, “kính viếng” rất chính xác, bỗng dưng lại thay bằng “phân ưu”, “thành kính phân ưu”, vừa xa lạ, vừa khó hiểu và tối nghĩa đến vô nghĩa, thậm chí sai hoàn toàn.

                                               HTC/12/2016

(*) Nguyên văn bài điếu:

"QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỨC QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI
Ông nguyên Thủ tướng,
Được tin Ông từ trần, lòng tôi thương cảm vô hạn. Vẫn biết tuổi Ông đã gọi là thọ; sự nghiệp văn hóa, chánh trị của Ông đã biểu dương một thân thế cao quý. Song tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ rằng mới cách đây mấy hôm, tôi còn vui thấy Ông tinh thần vẫn tráng kiện, chí khí còn hăm hở, và tưởng rằng trong những ngày sắp tới là lúc tổ quốc cần hết thảy những con dân tài đức như Ông, Ông tuy tuổi cao sức yếu, vẫn có thể phục vụ giang sơn như suốt cả cuộc đời tận tụy của Ông!
Lịch sử sẽ ghi thanh danh ông, thanh danh một nhà mô phạm biệt tài, một nhà văn học lỗi lạc, một nhà chí sỹ ái quốc. Và thân thế trong trắng của Ông đã làm gương cho kẻ đương thời sẽ làm gương cho lớp hậu thế.
Riêng đối với tôi, tôi không quên rằng trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử, lúc nào Ông cũng sẵn sàng hăng hái làm người cộng sự đắc lực của tôi: nào khi Ông nhận đảm đương sứ mạng nặng nề điều khiển con thuyền quốc gia trong khi thế nước chông chênh; nào lúc tòng vong ở nơi hải ngoại khi tôi tranh đấu để mang lại cho dân tộc một hy vọng, một tin tưởng ở tương lai; nào buổi mới đây tuy tuổi đã ngoài 70 mà Ông còn hăng hái đứng lên đảm nhiệm trọng trách chủ tịch hội nghị toàn quốc trong cuộc tường bày ý nguyện của dân tộc.
Ông thực đã xứng đáng với dân tộc. Ông quả đã xứng đáng với lòng tín cẩn của tôi.
Công trạng ấy tôi không quên.
Quốc dân cũng không quên. Lịch sử sẽ ghi công của người con ưu tú của đất nước.
Tin rằng hương hồn ông sẽ được tiêu diêu nơi cực lạc.
Bà nguyên Thủ tướng,
Tôi đề lời phân ưu cùng bà và toàn gia. Tôi mong rằng lòng tiếc thương của hết thảy quốc dân đối với cố Thủ tướng sẽ làm cho bà nhẹ bớt một phần nào nỗi đau đớn về dịp này và sự nghiệp lâu dài của cố Thủ tướng sẽ làm cho bà được cái an ủi rằng sự nghiệp ấy còn cũng như là người chí sỹ khuất núi vẫn còn!"
Lời điếu của Quốc trưởng Bảo Đại do Đổng lí văn phòng đọc trong Tang lễ cụ Trần Trọng Kim
(Nguồn: FB Trương Huy San)