8 thg 10, 2016

GIÁP DƯƠNG XÁ (Làng quê Dương Đình Nghệ)

Đền thờ Dương đình Nghệ ở làng Dương Xá
Ảnh: ST
     HOÀNG TUẤN PHỔ

Dương Xá là tên chữ, chữ “Dương” chuyển từ tên nôm cổ: Ràng hay Dàng, tùy theo cách phát âm rung lưỡi (R) hoặc cong lưỡi (D). Từ miền ngược đổ xuôi, sông Mã gặp sông Lương tại nơi thuộc giang phận làng Dàng thành tên ngã ba Dàng. Từ ngã ba Dàng trở xuống đáng lẽ vẫn là sông Lường tức sông Lương thì người ta gọi nhầm sông Mã, lâu ngày hóa quen, cũng như sông Sũ (tên nôm sông Lương) biến ra sông Chu. Một bài thơ khuyết danh nôm cổ tả phong cảnh xứ Dàng:

Núi Hoa Phong gió trong như quạt,
Nước sông Lường bóng ngoạt như gương.
Đất dinh cơ trông thể như dường,
Khí thiêng đông đúc trời Dương dịu dàng.

 Theo cách nhìn phong thủy học, Dương Xá là đất dinh cơ họ Dương lấy núi Ngũ Hoa đằng đông làm trấn sơn, sông Lường như cánh tay ngai ôm bọc phía sau, các núi Bàn A, Bằng Trình làm hộ sơn. Vây quanh Dương Xá, chầu vào Dương Xá nhiều núi non kỳ lạ mang tên những con vật thiêng: núi Voi, núi Ngựa, núi Rùa, núi Mèo,… Đây là chốn “địa linh” tạo hóa dành riêng cho người hào kiệt và hào kiệt tất nhận ra nơi anh hùng dụng võ: Dương Đình Nghệ, Dương Thị Như Ngọc, Dương Tam Kha, Ngô Quyền… với hàng ngàn tráng sĩ xuất thân từ lò võ đất Dàng.

Trung Quốc cai trị nước ta suốt từ Tần, Hán đến Ngụy, Tề, Chu. Nhà Tùy dấy nghiệp năm 581, mới được 20 năm đã bắt đầu suy yếu. Lý Uyên nổi quân đánh phá khắp nơi. Quân Lương Túc tiến sang Giao Châu, đánh vào tận Cửu Chân. Thứ sử Lê Ngọc bỏ quận trị Tư Phố trống trải, lui vào phía trong là Đồng Pho xây thành đắp lũy tính kế lâu dài, giao vùng đất phía bắc cho con trai cả Ích Từ công bảo vệ. Tương truyền tổ tiên họ Dương vì có công tham gia dẹp giặc Lương Tiêu được ban phong từ núi Kim Ngưu đến núi Hoàng Ngưu, có quyền khai phá đất đai, mở mang trại ấp, phò tá Ích Từ công, Trung Quốc công. Khoảng năm 621, Tham Xung tá quốc, con trai út Lê Ngọc, bị tử trận ở Đường Nang, Nường Ba nữ tướng Dương Doanh công nữ, từ mặt trận Hoan Châu về cứu em không kịp, nhảy xuống sông tự tận. Họ Lê mất, vùng đất họ Dương được ban phong chỉ còn trên danh nghĩa. Đất nước quê hương lại sống trong lầm than đen tối dưới ách đô hộ nhà Đường. Họ Dương vẫn đứng đầu hương ấp Dương Xá, được quyền khai khẩn đất hoang, để chính quyền đô hộ thu khoản thuế tăng thêm và nặng hơn.

Thời Mạt Đường, quan lại cai trị Giao Châu nhiều kẻ ăn chơi xa xỉ, bóc lột tham tàn, trộm cướp nổi lên như ong. Hương ấp Dương Xá ở gần sông lớn thành nơi đầu sóng ngọn gió, thường xuyên bị giặc cướp đông hàng trăm người, ban đêm giong thuyền buồm tới cướp của giết người. Phủ đô hộ Giao Châu bất lực trước tình hình ấy, đành cho các hương ấp được tổ chức hương binh để tự bảo vệ lấy hương ấp mình. Họ Dương truyền đến Dương Đình Nghệ là trang hào kiệt từ lâu vẫn ngầm nuôi chí lớn đánh đuổi quan lại phương Bắc, gặp cơ hội lập đội hương binh, chiêu mộ trai tráng khắp nơi, được hàng nghìn người khỏe mạnh, mở lò võ Dương Xá đêm đêm luyện tập võ nghệ, nấp dưới danh nghĩa con nuôi để che mắt bọn quan lại cai trị.

Những năm cuối thế kỷ IX, họ Khúc ở Hồng Châu (nay thuộc Hải Dương) nổi lên, thế lực rất mạnh. Nhân lúc An Nam Tiết độ sứ Chu Toàn Dục ốm chết, nhà Đường chưa kịp cử người sang thay, hào trưởng Khúc Thừa Dụ đem quân chiếm lấy thành Đại La, tự xưng Tiết độ sứ và xin nhận mệnh lệnh với nhà Đường. Vua Đường đang lo đối phó với nhà Nam Hán, buộc phải công nhận và ban chức tước cho Khúc Thừa Dụ. Mới được một năm (906 – 907) Khúc Thừa Dụ mất, trao binh quyền cho con là Khúc Hạo. Khúc Hạo biết tiếng Dương Đình Nghệ mời ra làm tướng, giao cho cai quản miền Hoan - Ái. Từ một nghìn “con nuôi”, Dương Đình Nghệ nhanh chóng phát triển lên đến ba nghìn người. Ban ngày họ vẫn cày cuốc làm đồng áng như dân thường, đêm về mới luyện tập võ nghệ. Chính quyền họ Khúc đổi hương làm giáp, trên giáp là cấp huyện, hương ấp Dương Xá thành giáp Dương Xá. Giáp Dương Xá lúc này đã mở rộng địa giới khá rộng, tương đương một huyện.

Khi Dương Đình Nghệ ra làm tướng cho Khúc Hạo thì Lê Lương, người sau này làm giáp trưởng giáp Bối Lý, còn nhỏ. Nhưng Lê Lương thuộc dòng dõi Lê Ngọc được nhân dân rất mến mộ. Từ hàng trăm năm trước họ đã lập đền thờ Lê Ngọc, Ích Thừa công, Trung Quốc công ở các làng: Đồng Pho, Thạch Khê, Y Xá… Đến lúc Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn đầu độc, anh em, con cháu nhà họ Dương chia rẽ bè phái, thế lực trở nên yếu kém tạo đà cho Lê Lương nổi lên gây dựng lại cơ nghiệp tổ tiên, hễ nơi nào có đền thờ Lê Ngọc, Ích Thừa, Trung Quốc, đều là đất đai họ Lê. Giáp Dương Xá trước bao trùm cả huyện Đông Cương (thời Trần đổi Đông Sơn), nay chia đôi: phía nam là giáp Bối Lý, phía bắc là giáp Dương Xá. Rồi trong lúc họ Dương cùng họ Ngô (con cháu Ngô Quyền) lao vào cuộc chiến “tranh bá đồ vương”, họ Lê ở Bối Lý ra sức phát triển kinh tế, chẳng mấy chốc trở nên giàu có nhất Ái Châu.

Thời Lý – Trần, những giáp lớn như Dương Xá, Bối Lý (huyện Đông Sơn), Yên Duyên, Ngọc Sơn (Quảng Xương) đều gọi là hương. Thời Hậu Lê, bỏ hương chia xã. Đến thời Nguyễn, dấu tích đất Dương Xá của Dương Đình Nghệ còn thấy ở nhiều xã phía bắc huyện Đông Sơn, kéo sang một số nơi thuộc huyện Thiệu Hóa, huyện Triệu Sơn… Hiện nay, làng Dàng – Dương Xá thuộc xã Thiệu Dương, vẫn còn bảo lưu nhiều di tích trên mảnh đất cụ khởi tổ nhà họ Dương đến đây bổ nhát cuốc khai phá đầu tiên trên khúc đuôi con rồng núi Đông Sơn 99 khúc.

Thực ra, trước họ Dương, đất Long Vĩ - Đuôi Rồng đã rực rỡ thời kỳ đồng thau của nền văn minh Đông Sơn được cả thế giới ngưỡng mộ.

Dương Xá - Thiệu Dương nằm ở trung tâm khu vực lịch sử rộng lớn, cũng là một vùng nước  non kỳ thú. Bấy giờ là thế toàn tân (một vạn năm trở lại đây) của Kỷ đệ tứ. Địa mạo nhiều lồi lõm tạo ra sự phong phú cho cảnh vật. Trong vùng đất không rộng, bên cạnh sông ngòi, có đồng cỏ, hồ đầm, đồng lầy, bái cao, đồi gò, núi non…điều kiện tự nhiên thuận lợi để muôn loài vạn vật sinh tụ và phát triển. Thiên nhiên tươi đẹp giàu có hấp dẫn con người tối cổ thời kỳ tiền Hùng Vương và thời đại Hùng Vương đến quần cư trên miền đất sông Lương, bấy giờ chưa nối dòng sông Mã. Họ ở trong những hang động núi Tún, núi Voi,…dựng lều trại trên những núi Rùa, núi Đông Lĩnh, gò Chân Tiên,…xuống sông, suối, ao, đầm bắt cá, lên rừng hái rau quả, đào củ, ra bái săn bẫy hươu nai, lợn lòi, cày, cáo… Phong phú đáng kể là những cánh đồng sâu trũng: ngoài ốc, cua, tôm, cá…còn lúa hoang, lúa rài, nơi mở hội của các loài chim nước, nhỏ từ le le, cốc, cò,… lớn như: diệc xám, ngỗng trời, dang dang…

Đó là nguồn thức ăn quý báu, dồi dào vô tận đối với người Dương Xá - Thiệu Dương, Chân Tiên - Đông Khối thời đại Hùng Vương dựng nước vĩ đại. Đó cũng là nguồn sống tạo hóa dành riêng cho lớp “người vượn” thời kỳ trước Hùng Vương mà địa chỉ núi Đọ muôn thuở còn vang danh.

Từ làng Dương Xá đi ra, trên cánh đồng kề bên đường, năm 1960, cán bộ khảo cổ phát hiện một di chỉ có tầng văn hóa vừa rộng, vừa sâu, bề mặt khoảng 50.000m2. Trong phạm vi di tích đã khai quật 10.800m2 nổi bật lên 38 bộ xương người còn khá tốt so với những bộ xương tìm thấy ở những di chỉ khác. Những bộ xương người đó được chôn kèm theo nhiều di vật loại hình phong phú: vũ khí bằng đồng, gương đồng, ấm đồng, tiền đồng, kiếm sắt, đồ đá mài, hoa tai, vòng đeo tay, chuỗi hạt, đồ gốm,.v.v… Đặc biệt, có một chiếc đũa bằng đồng, một hiện vật độc đáo, chưa từng phát hiện thấy ở bất cứ di chỉ khảo cổ nào trên miền Bắc nước ta.(2)

Ba mươi tám bộ xương người là tập hợp cá thể quan trọng và đủ lớn để nhà chuyên môn dựng lại ngôi làng Dương Xá cuối thời đại Hùng Vương, một xã hội Hùng Vương thu nhỏ. Dương Xá thời ấy thuộc xã hội đã bắt đầu phân chia giai cấp: đại để có hai tầng lớp chính: tầng lớp trên là quý tộc tướng lĩnh, tầng lớp dưới là nhân dân lao động. Những bộ xương kèm đồ tùy táng quý giá bên mình, cho biết họ lúc sống là những quý tộc tướng lĩnh, đàn ông cổ tay, cổ chân đeo vòng đồng, tiếng kêu leng reng theo nhịp bước. Tay phải họ cầm cây dáo đồng sắc nhọn, vai trái đeo cây cung với những mũi tên đồng cánh én, lưng dắt rìu đồng hoặc lưỡi dao găm đồng. Họ dáng đầy oai vệ với cái đầu bờm xờm tóc râu, cất lên kiêu hãnh… Đàn bà trang điểm công phu, chải tóc, đeo vòng tai, chuỗi hạt, tóc búi lên đỉnh đầu lấy khăn bao lại, áo, yếm, váy đủ bộ, thêm chiếc khăn dài lượt thượt… Họ ngắm nghía khuôn mặt quý phái của mình trong chiếc gương đồng lớn đánh bóng sáng loáng, ăn trầu, nói chuyện phiếm cho hết thời gian…

Những bộ xương chôn dưới lớp đất sâu hơn có thể là dân lao động cùng với nô lệ chôn theo. Vật tùy táng bên cạnh họ là con dao, cái búa, lưỡi liềm, lưỡi cày, là những dụng cụ lao động và những đồ gốm dùng để đựng, và đun nấu. Trong một hố đất sâu 70cm, nhà khảo cổ tìm được một xương đầu trâu cùng dấu vết tro than, di cốt của trâu nhà. Đó là bằng chứng chăn nuôi gia súc của người.

          Dương Xá hai ngàn năm trước (hoặc hơn); họ đã chăn nuôi được đại gia súc (trâu, bò) tất yếu tiểu gia súc phổ biến và có phần phát triển. Người ta có thể ngờ cái xương đầu trâu ấy là di cốt con trâu hiến tế. Nhưng còn lưỡi cày đồng? Để làm gì nếu không phải để cày trâu? Chắc chắn người Dương Xá bấy giờ không còn là mới học làm ruộng mà đã biết nghề nông. Việc này hết sức quan trọng.
          .......
Năm 937, Dương Đình Nghệ bị ám sát bởi tên cận thần Kiều Công Tiễn phản bội. Tương truyền lúc Dương Tiết độ sứ qua đời, một ngôi sao trên trời sa xuống Kẻ Dàng, đến nay còn lại một cái hồ, dân làng gọi là hồ Sao Xỉa tức hồ Sao Sa. Có câu thơ ca ngợi:

         Non Đoài trông thể mày nga,
Nguyệt Hồ phương Mão ngoại sao sa tục truyền.

Non Đoài là dãy núi trùng điệp đằng tây, từ ngàn Nưa kéo đến. Phía đông Dương Xá là cụm núi Ngũ Hoa:

Núi Hoa Phong gió trong như quạt,
Nước sông Lường bóng ngoạt như gương.
Đất dinh cơ trông thể như dường,
Khí thiêng đông đúc trời Dương dịu dàng.

Ngũ Hoa hay Hoa phong gọi đầy đủ là Ngũ Hoa phong, một khóm núi từ năm cái vây cuối lưng con rồng dựng lên thành năm bông hoa đón gió. Mỗi bông hoa lại có dáng một nàng tiên đang đứng múa.

Từ “gió trong” nghe hơi lạ mà hay. Ta thường chỉ nghe nói “gió mát”, nhưng ở vùng đồi quang núi trọc, các thứ gió: gió lốc, gió xoáy, gió cuốn, gió lộng, gió thốc, gió quẩn, gió nồm, gió phơn, gió đông,…thường làm tung cát bụi, làm vẩn đục bầu không khí trong lành. Cho nên, phải là “gió trong”, mà bên trong “gió trong”, đã bao hàm gió mát, thứ gió mát trong suốt như lọc, không chút bụi bặm. Do sự cấu tạo, sắp đặt của năm ngọn núi theo cách đặc biệt, mọi thứ gió đi qua Ngũ Hoa phong đều được lọc hết bụi bặm trở thành “gió trong” thổi mát “như quạt”. Từ “gió trong” cùng với “bóng ngoạt như gương” cũng là hai hình ảnh đẹp: “thanh phong”, “minh nguyệt” thường đi đôi với nhau để tả cảnh trăng trong gió mát.

Thực ra, mấy câu thơ trên hàm ý địa lý phong thủy của Dương Xá, người xưa xem Ngũ Hoa phong như là “trấn sơn”, khác nào bức “bình phong” thiên tạo, vừa đón mọi thứ gió từ phương xa thổi tới vừa làm bình ổn gió để dương cơ họ Dương bốn mùa trong lành mát mẻ.
Núi Con Mèo cũng là một “trấn sơn” bảo vệ Dương Xá:
VỊNH THANH HÓA MIÊU TỬ SƠN
(Chữ Hán)
Hổ cứ giang biên tráng địa duy,
Kiền thai khôn dựng kỷ đa thì?
 Lăng tằng thạch cốt lăng sương dội,
Ẩn ước đài mao liễm lộ phì.
Phong động nộ hào kình án thiếp,
Nguyệt minh cố ảnh điểu kinh phi.
Võng Xuyên nhược hữu truyền thần thủ,
Miêu nhập đan thanh diệc nhất kỳ.
CAO BÁ QUÁT
(1808 – 1854)
Dịch thơ:
VỊNH NÚI CON MÈO Ở THANH HÓA
Bài I
Ngồi chặn bên sông dáng hổ già,
Trời thai đất nghén tự bao giờ.
Gồ ghề cốt đá làn sương dội,
Ấp ảnh lông rêu hạt móc sa.
Tiếng gió như gào kình sợ khiếp,
Sáng trăng rõ bóng chim bay xa.
Võng Xuyên ví có tay tài vẽ,
Vẽ bức tranh này chẳng lạ a?
HOÀNG TẠO dịch
(Thơ chữ Hán Cao Bá Quát
NXB Văn học – 1976)
Bài II
Như hùm chồm chỗm trấn bên sông,
Đất nở trời sinh khéo lạ lùng!
Cốt đá phơi sương to lớn xác,
Lông rêu thấm móc mượt mà lông.
Gầm gừ mượn gió, kình nem nép,
Mờ tỏ nhờ trăng, cú hãi hùng.
Truyền thần thợ giỏi nhờ ai đó,
Vẽ bức tranh này, thú vị không?
(HOÀNG TUẤN PHỔ dịch)

Giữ vị trí “hộ sơn” cho Dương Xá là núi Tiên–Sơn. Núi này tên chính là Hộ Sơn, Tĩnh Vương Trịnh Sâm lên chơi thấy phong cảnh đẹp mới đổi tên Tiên Sơn. Vương Duy Trinh trong sách Thanh Hóa kỷ thắng vẫn gọi là  Hộ Sơn và chép rằng: “Núi ấy hình thế Bàn A Sơn, mạch tới địa diện xã Dương Xá thì đột khởi”. Như vậy, về sơn long, địa mạch của Dương Xá  còn quan hệ tới cả Bàn A – Bằng Trình.

Phía trước Dương Xá, một trái núi giống hình con voi phủ phục làm “tiền án” cho đất “dinh cơ”. Núi tên chữ “Tượng Sơn”, tên nôm “Núi Voi”. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, đây là nơi chế tạo dụng cụ sản xuất bằng đá thuộc thời kỳ ĐỒ ĐÁ MỚI cách đây hàng vạn năm trước. Nó góp phần chứng minh cư dân Lạc Việt ở Dương Xá đã trải qua quá trình phát triển liên tục từ thời đại đồ đá sang đồ đồng, trên lưu vực sông Chu – sông Mã.(4)

Xa xa phía sau Dương Xá là núi Trịnh làm “hậu chẩm” người xưa đặt tên núi Kim Ngưu, tượng hình “tê ngưu vọng nguyệt”: tê giác ngắm trăng(5). Tại đây phát lộ một di chỉ mũi tên đồng dày đặc khiến người ta nghĩ đến nhiều khả năng có thể là một công xưởng sản xuất, hay một kho tàng lưu trữ, nó cũng giống như một bãi chiến trường trong cuộc chiến tranh Hùng – Thục hoặc trận đánh quyết tử với quân Mã Viện thời Hai Bà Trưng.

(còn nữa)
HTP (trích từ "Những làng cổ tiêu biểu xứ Thanh"-Hoàng Tuấn Phổ-NXB Dân trí-2000)

Chú thích:
- (1) Đặng Phong: Kinh tế thời Nguyên thủy ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
- (2) (3) (4)Tài liệu khảo cổ của Vụ Bảo tồn – Bảo tàng.
 - (5) Tê ngưu: Con tê giác. Loại thú ở rừng giống trâu, sừng mọc trên mũi. Nhưng có khi người ta cũng dùng chữ tê ngưu nghĩa là con trâu để phân biệt với hoàng ngưu là con bò. Hoặc chữ tê ngưu còn được hiểu là trâu rừng.