13 thg 11, 2014

Về bài viết Trúc Phong "biện hộ" cho thầy học PGS.TS Nguyễn Công Lý

 

    Hoàng Tuấn Công

 

Ngay sau khi đăng kỳ II bài viết "Những sai lầm của PGS.TS Nguyễn Công Lý trong sách "Giải thích từ ngữ Hán Việt trong sách giáo khoa..." (10/11/2014) một độc giả của Tuấn Công thư phòng gửi cho chúng tôi đường link bài viết của Trúc Phong-học trò PGS.TS Nguyễn Công Lý, tiêu đề: "Về những sai lầm của PGS.TS Nguyễn Công Lý | Trúc Phong" và đề nghị chúng tôi cho biết ý kiến.

Bài của Trúc Phong trên trucphongpnk.blogspot.com đã đăng cách đây hơn 1 tháng (30/9/2014)-tức sau khi chúng tôi đăng kỳ I (6/9/2014) gần 1 tháng. Quả tình, nếu không được dẫn link, chúng tôi cũng không biết có một bài viết như vậy.
Trúc Phong cho biết, ông là “một biên tập viên chuyên nghiệp” (...) "cần trao đổi với người viết bài này" (tức bài của tôi-Hoàng Tuấn Công) và "nói trước là tôi đang biện hộ cho thầy tôi đấy!"

Vậy, Trúc Phong “biện hộ” cho thầy mình thế nào?

Ý Trúc Phong cho rằng chúng tôi đã “đánh tráo khái niệm”, mà ông lại “là người không thích đánh tráo khái niệm (...) Cãi nhau ầm ĩ khi các khái niệm bị hiểu lộn xộn thì "ông nói gà, bà nói vịt", không hay cho lắm”.Thế nên Trúc Phong đã mất công giảng giải lại cho chúng tôi và bạn đọc biết thế nào là từ, thế nào là tự, thế nào là từ Hán Việt, từ đồng âm khác nghĩa...

Trúc Phong “biện hộ” cho thầy học của mình ở hai điểm chính:

1-Chỉ ra“Những nhận định sai lầm trong bài viết” (của tôi-HTC)

2-Lý giải tại sao thầy Lý “lại dùng "từ điển" của Đào Duy Anh thay vì "tự điển" của Thiều Chửu, hoặc "từ điển" của Trần Văn Chánh...” (vì trong kỳ I, chúng tôi đặt câu hỏi, tại sao giải nghĩa hàng trăm, hàng ngàn yếu tố Hán Việttừ Hán Việt mà thầy Lý lại chỉ căn cứ vào mỗi cuốn từ điển Hán Việt của cụ Đào Duy Anh, dẫn đến những sai sót không đáng có)

1-Về “Những nhận định sai lầm trong bài viết”, Trúc Phong viết:

“Thứ nhất, người viết dường như đã quên mất rằng, không phải mọi "chữ Hán" đều là "từ Hán Việt"... (HTC gạch chân).
Đúng vậy, “không phải mọi "chữ Hán" đều là "từ Hán Việt", chúng tôi hiểu. (Trúc Phong phân tích khá công phu, nhưng tôi xin không trích lại. Độc giả có thể theo link đầu bài viết này để tham khảo).

Tuy nhiên, nếu Trúc Phong đọc kỹ bài viết, thậm chí chỉ cần đọc kỹ đoạn tôi trích dẫn dưới đây(*) sẽ thấy, đối tượng “giải thích”“mở rộng” của thầy Lý không chỉ là “từ Hán Việt” mà còn có “yếu tố Hán Việt”. (xin xem ảnh “Bảng kê các yếu tố Hán Việt...” trong sách của thầy Lý) Mà “yếu tố Hán Việt” là gì? Nó chính là tự (chữ Hán), bộ phận cấu tạo nên từ Hán Việt đó thôi. Ví dụ chữ kiên = bền chặt, là yếu tố Hán Việt để tạo nên các từ như: kiên cố, kiên định, kiên quyết...Chẳng lẽ Trúc Phong giảng giải cho chúng tôi nghe về từtự khác nhau thế nào mà lại không hiểu điều đó? Vậy, chỉ có thể giải thích là ông đã không đọc kỹ bài viết của chúng tôi.

(*)-Trong bài kỳ I, chúng tôi viết: sách “Giải nghĩa từ ngữ Hán Việt...” thầy Lý chủ trương cung cấp vốn từ của 220 yếu tố Hán Việt có trong sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở, “Đồng thời tài liệu cũng mở rộng, cung cấp thêm một số từ Hán Việt thường gặp mà sách giáo khoa không nêu và cung cấp các từ đồng âm của các yếu tố Hán Việt (nếu có)” (trích Lời nói đầu- HTC nhấn mạnh) là việc làm rất cần thiết. Rất tiếc thực tế lại không giống nhưng những gì Thầy nói”. (tức có những từyếu tố Hán Việt đồng âm, nhưng thầy Lý thấy trong “Hán Việt từ điển” của Đào Duy Anh không có, thầy sẽ kết luận là không có)

Như vậy, về điểm “Thứ nhất”, chúng tôi không hề quên mất rằng, không phải mọi "chữ Hán" đều là "từ Hán Việt", cũng không “nhận định sai lầm” cho thầy Lý như Trúc Phong nhận xét.

2.Trúc Phong viết: Thứ hai, người viết mải mê tìm những lỗi sai trong cuốn sách mà quên mất rằng, nên cần một cái nhìn rõ ràng hơn về quan điểm của người viết”, và cho rằng: “cái lỗi lớn nhất trong cuốn sách của thầy tôi - PGS Nguyễn Công Lý - chính là: Thay vì khẳng định rõ ràng các khái niệm lớn như ở phần trên để tránh hiểu lầm, lại tiến vào nội dung quá nhanh (không rõ là do tôi không biết, hay là bản thân cuốn sách không có mục này)”.

Từ đó, Trúc Phong khẳng định:
 “Mặc dù tôi cũng không tin rằng, trong tất cả các cuốn sách giáo khoa ngữ văn, không có cuốn nào có chữ "tiền" nghĩa là tiền bạc, hay "phú" nghĩa là cấp cho, và "bạch" nghĩa là lụa (một sai lầm thực sự đáng trách đối với 1 người nổi tiếng tỉ mỉ như Nguyễn Công Lý), nhưng "hạt sạn" trong sách không nhiều như bài viết nêu ra đâu! Cười! Hơn 1 nửa trong số đó là sai lầm của bài viết tôi đã trình bày ở trên, một số ít các trường hợp còn lại nằm trong mâu thuẫn về khái niệm giữa tác giả bài viết và tác giả cuốn sách: Thế nào là từ "đồng âm khác nghĩa"?

Như vậy, Trúc Phong cho rằng, đối tượng của sách là “từ” nên thầy Lý không ghi nhận “tự” là đúng. Và ông kết luận những: "hạt sạn" trong sách không nhiều như bài viết nêu ra đâu! (...) Hơn 1 nửa trong số đó là sai lầm của bài viết” (tức sai lầm của chúng tôi)

Dĩ nhiên, đó là những nhận định sai của Trúc Phong, vì ngay từ đầu ông đã không hiểu “yếu tố Hán Việt” chính là đơn vị “tự” (chữ). Nhớ lại, trong bài kì I, chúng tôi đã viết như sau: “Ở mục từ "đường"  thầy Lý kể thêm một số "Từ đồng âm khác nghĩa" như: "đường -Tiếng trống; đường -Bờ đê, cái ao hình vuông...". Những yếu tố Hán Việt này rất hiếm xuất hiện trong từ ngữ văn chương hoặc lời ăn tiếng nói hàng ngày. Tuy nhiên thầy Lý vẫn ghi nhận chúng trong mục "Từ đồng âm khác nghĩa", lý gì lại bỏ qua những yếu tố Hán Việt đồng âm khác nghĩa rành rành khác mà chúng tôi đã nêu?”

Về điều này, chính Trúc Phong cũng phải thừa nhận: “Tác giả cuốn sách (tức GS.TS Nguyễn Công Lý-HTC) cũng "nhập nhằng" ra trò khi lôi "đường" nghĩa là nhà chính ra làm "từ đồng âm khác nghĩa" với "đường" - Tiếng trống...”


Điều mà Trúc Phong gọi là “nhập nhằng” thực ra là do lỗi của PGS.TS Nguyễn Công Lý. Vì với đề mục “Từ đồng âm khác nghĩa”, lẽ ra thầy Lý phải viết đầy đủ: Từ và yếu tố Hán Việt đồng âm, khác nghĩa. Nhưng, có lẽ do muốn ngắn gọn nên hai khái niệm từ yếu tố Hán Việt, thầy Lý gọi chung “từ” cả. Chúng tôi không vì thế mà “bắt lỗi” thầy Lý không phân biệt được từtự. Bởi trong “Lời nói đầu” thầy Lý đã phân biệt rạch ròi và xác định rõ sẽ thu nhận, giải thích cả từtự (ở đây được hiểu một đơn vị tự tương đồng với một từ tố,hay yếu tố Hán Việt) đồng âm khác nghĩa.

Trong bài kỳ I, chúng tôi viết: Với yêu cầu giải nghĩa 220 yếu tố Hán Việt có trong sách Ngữ văn các lớp 6,7,8,9 và mấy ngàn từ ngữ của các yếu tố Hán Việt mở rộng có liên quan, mà thầy Nguyễn Công Lý chỉ dựa vào 3 đầu sách trên làm tài liệu tham khảo kể ra hơi ít.Thậm chí là quá ít để Thầy vận dụng một phương pháp biên soạn có thể nói rất “ngây thơ” và “dại dột”. Đó là: căn cứ vào "Hán Việt từ điển" của Đào Duy Anh để khẳng định với"các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh" từ và yếu tố Hán Việt A hoặc B nào đó  hay không có “từ đồng âm khác nghĩa”.

Về điều này, một mặt Trúc Phong thừa nhận: “ngay cả khi người viết là một người có uy tín như thầy tôi - PGS.TS. Nguyễn Công Lý cũng không đủ căn cứ để mô tả hàng trăm từ Hán Việt như vậy.”

Tuy nhiên, theo Trúc Phong, thầy Lý có cái lý của mình. Bởi Thầy chỉ giải nghĩa từ Hán Việt nên “tác giả cuốn sách lại dùng "từ điển" của Đào Duy Anh thay vì "tự điển" của Thiều Chửu, hoặc "tự điển" của Trần Văn Chánh...” là đúng. Theo Trúc Phong: “Nguyên nhân có thể đoán ra được là: Trong số ba cuốn "điển" trên, chỉ có đúng một mình cuốn của Đào Duy Anh là mô tả "từ Hán Việt" thay vì là "chữ Hán...".

Và ông kết luận: “Thiết nghĩ, lý do chỉ chọn cuốn sách này cũng đã quá rõ ràng rồi! (Nếu người đọc còn thắc mắc, xin xem khái niệm thứ 2 trong bài viết này-tức khái niệm về từ Hán Việt-HTC)

Trúc Phong phân tích thêm: “Tự điển Thiều Chửu là một cuốn tự điển phổ thông và có nội dung khá đầy đủ, nhưng vì là "tự điển" nó không phân biệt cho người sử dụng, đâu là "chữ Hán", đâu là "chữ Hán trong từ Hán Việt". Trong khi đó, mục từ kiểu như thế này trong từ điển của Trần Văn Chánh lại nằm trong phần "tự" chứ không phải "từ". Nếu cần, "Từ điển Hán Việt từ nguyên" của Bửu Kế có lẽ là một cuốn sách đáng để tham khảo trong trường hợp này”.

Thiết nghĩ, chúng tôi không cần nói gì thêm, mà chỉ đề nghị Trúc Phong đọc kỹ lại bài viết của chúng tôi. Đó đã là câu trả lời rồi.

Tuy nhiên, chúng tôi muốn lưu ý: có lẽ ông Trúc Phong đã quan niệm quá máy móc về cách dùng “từ điển”“tự điển”. Bởi trong “từ điển” không chỉ có “từ” mà (dĩ nhiên) còn có “tự” (vì tựyếu tố Hán Việt cấu tạo nên từ- thường được nhà biên soạn nêu ra và giải nghĩa chung ở đầu mỗi mục từ). Trong “tự điển” cũng không chỉ có “tự” mà còn có cả “từ” (các ví dụ, trích dẫn về từ, ngữ của nhà biên soạn. Ví dụ, chữ nguyên = mới, đầu, Thiều Chửu đã liệt kê và giảng tới 18 từ, ngữ có chữ nguyên như: nguyên niên, kỷ nguyên, nguyên nguyệt, nguyên nhật, nguyên lão, trạng nguyên, nguyên thủ...). Bởi vậy, ngay cả với sách chỉ giải nghĩa từ Hán Việt, nếu tham khảo tự điển cũng sẽ rất bổ ích và không bao giờ là thừa(*) Vì “tự” cấu tạo nên “từ”. Hiểu đúng, hiểu sâu về nghĩa của “tự” sẽ góp phần hiểu chính xác, hiểu sâu về nghĩa của “từ”. Huống chi, mục đích sách của thầy Lý là mở rộng cả vốn từ Hán Việt lẫn yếu tố Hán Việt (tự) cho giáo viên và học sinh. Vậy, việc tham khảo thêm “Hán Việt tự điển” của Thiều Chửu hay “Tự điển Hán Việt” của Trần Văn Chánh sao có thể gọi là không cần thiết?

(*)Xin đưa ra một ví dụ: Chữ “tải”, “Hán Việt từ điển” của Đào Duy Anh chỉ đưa ra hai âm đọc là tái tải, với 4 nghĩa: âm “tải”: chở đồ hàng bằng xe thuyền hoặc lừa, ngựa; âm “tái”: Chở xe; Chịu người ta giao cho; Mới bắt đầu; Đặt việc. Trong khi “Hán Việt tự điển” của Thiều Chửu ghi nhận 3 âm đọc: tái, tại, tải, và giảng tới 9 nghĩa; “Tự điển Hán Việt” của Trần Văn Chánh giảng 13 nghĩa. Riêng tự điển của Thiều Chửu giảng một nghĩa rất quan trọng mà sách của Đào Duy Anh và Trần Văn Chánh không có, đó là “Tải - Năm, nhà Hạ gọi là tuế . Nhà Thương gọi là tự . Nhà Chu gọi là niên . Nhà Ðường , nhà Ngô gọi là tải . Chính GS Nguyễn Lân trong “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam”, vì tham khảo “Hán Việt từ điển” giản-yếu của cụ Đào Duy Anh, mục chữ “tải” thấy chỉ giảng duy nhất một nghĩa là: “chở đồ hàng bằng xe thuyền hoặc lừa, ngựa”, nên mới giảng sai chữ “tải” trong câu thành ngữ gốc Hán “Thiên tải nhất thì” “tải: nghĩa đen là chở đi”, trong khi “tải” này nghĩa là “năm” (Ngàn năm mới có một lần) như Thiều Chửu đã giảng.

Sở dĩ người ta phải sử dụng rất nhiều từ điển, tự điển cũng vì lẽ đó. Cuốn này bổ khuyết cho cuốn kia. Không có cuốn từ điển, hay tự điển nào đầy đủ hết tất cả, hoặc có thể thay thế cho tất cả các cuốn khác. Đôi khi, những từ, tự cần tìm lại không nằm trong những cuốn từ điển, tự điển tên tuổi. Trong khi, như chúng tôi đã nói trong bài kỳ I, không ai hạn chế số lượng sách tham khảo của thầy Lý.

Trúc Phong khuyên thầy mình: “...Vậy nên, có chăng là nên thêm 1 vài cuốn từ điển khác kiểu như Khang Hi, hay từ điển Hán Việt từ nguyên gì đấy! Nó làm cuốn sách chính xác hơn”.

Nhưng, Trúc Phong vừa “biện hộ” việc thầy Lý không sử dụng “tự điển” của Thiều Chửu và Trần Văn Chánh để tham khảo giải nghĩa từ là đúng, sao cuối cùng lại khuyên thầy Lý nên sử dụng “Khang Hy tự điển”? Căn cứ nguyên văn câu của Trúc Phong tôi trích dẫn trên, hình như ông cũng không rõ Khang Hy từ điển hay Khang Hy tự điển?

 Cũng cần nói thêm “Từ điển Hán Việt từ nguyên” của Bửu Kế thiên về nguồn gốc, nghĩa gốc, nghĩa cổ của từ, đâu phải là một lựa chọn hoàn hảo và phù hợp với yêu cầu mở rộng vốn từ Hán Việt ở cấp Trung học cơ sở? [1]

Tôi nghĩ, Trúc Phong là người khách quan và trung thực, nặng tình thầy trò đáng trân trọng. Ông đã không đứng ngoài cuộc khi thấy có người nói “oan” cho thầy mình. Tuy nhiên, như Trúc Phong đã thừa nhận: "cũng không rõ lắm về cuốn sách" của thầy mình-PGS.TS Nguyễn Công Lý; lại không đọc kỹ bài viết của chúng tôi, dẫn đến thực tế ngoài ý muốn: “biện hộ” lại trở thành “ngụy biện” !Điều này rõ ràng không có lợi. Với Hoàng Tuấn Công: độc giả (và ngay cả Trúc Phong) ngỡ rằng tôi cố tình “đánh tráo khái niệm” nói sai cho thầy Lý. Với Trúc Phong: những người đọc kỹ và hiểu rõ hai bài viết sẽ hiểu lầm ông vì tình riêng mà thiên vị thầy học PGS.TS Nguyễn Công Lý, “...ra dáng một người không có chút tinh thần khoa học nào nữa rồi!” (chữ của Trúc Phong). Dù đầu bài viết, ông đã dẫn trước câu nói của Aristotle: "Tôi yêu thầy tôi, nhưng tôi còn yêu chân lý hơn". Phần độc giả, nhiều người sẽ thấy bị “nhiễu” thông tin, không biết ai đúng, ai sai. Cuối cùng, thầy Nguyễn Công Lý nếu biết, dẫu cảm kích về tình thầy trò, chắc cũng không dám nhận lời "biện hộ" của học trò Trúc Phong. 

Bởi vậy, chúng tôi xin có đôi lời, gọi là phân trần với Trúc Phong và bạn đọc. Để hiểu rõ hơn vấn đề, Trúc Phong và độc giả có thể xem lại Kỳ I, Kỳ II  và đón xem Kỳ III-cũng là kỳ cuối của loạt bài “Những sai lầm trong sách “Giải thích từ, ngữ Hán Việt...” của PGS.TS Nguyễn Công Lý”.

Cảm ơn anh Trần Phi Điệp (tranphidiep@gmail.com - người gửi link bài viết "Về những sai lầm của PGS.TS Nguyễn Công Lý của Trúc Phong" cho tôi) cùng độc giả đã quan tâm tới chuyện chữ nghĩa của Tuấn Công thư phòng.



                                       HTC/Thanh Hóa/12/11/2014

Chú thích:

[1]-Cách lựa chọn tài liệu tham khảo của PGS.TS Nguyễn Công Lý có khá nhiều vấn đề, bởi nó không chỉ thiếu mà còn lạc hậu. Ngoài cuốn từ điển cổ của cụ Đào Duy Anh, nhiều từ, ngữ Hán Việt không còn phù hợp với nghĩa tiếng Việt hiện đại  như chúng tôi đã nói, cách lựa chọn hai cuốn Từ điển tiếng Việt còn lại cũng có điều cần nói. Ví dụ: Sách "Giải thích từ ngữ Hán Việt..." xuất bản năm 2011, thế nhưng, thầy Lý lại chọn "Từ điển tiếng Việt" (Hoàng Phê chủ biên) bản xuất bản 1994 (trước đó tới 17 năm) và "Đại từ điển tiếng Việt" (Nguyễn Như Ý chủ biên) xuất bản 1999 (trước đó 13 năm). Hình như thầy Lý không biết rằng, "Từ điển tiếng Việt" được Trung tâm từ điển học-Vietlex (do Hoàng Phê sáng lập) đã tái bản, sửa chữa bổ sung rất nhiều từ ngữ. Bởi vậy, ngay cả với một cuốn từ điển cùng tác giả, việc tìm hiểu quá trình biên soạn, tái bản để cập nhật thông tin cũng là điều rất cần thiết đối với người sử dụng. Với một công việc quan trọng như của thầy Lý, điều này càng không thể xem nhẹ.