10 thg 6, 2015

AM TIÊN núi NƯA

           HOÀNG TUẤN PHỔ
Trên đỉnh ngàn Nưa

Trong thư gửi bạn đồng tâm, đồng chí, nhà yêu nước và cách mạng Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền giới thiệu danh sơn núi Nưa: "Ở phía tây nam Hạc Thành (TP Thanh Hóa) có dãy núi đẹp, cao tột trời, cây cối rậm rạp, đó là núi Nưa...". Nguyễn Thượng Hiền là con trai danh sĩ Nguyễn Thượng Phiên, quê quán Hà Đông. Ông Phiên thích cảnh trí núi Nưa, đã dựng một ngôi nhà để nghỉ ngơi, nuôi dưỡng tâm hồn. 


Nguyễn Thượng Hiền tuổi trẻ đỗ cao, đường danh vọng thênh thang mở rộng. Ông đã hứa hôn tại quê nhà nhưng Binh bộ thượng thư Tôn Thất Thuyết vẫn gả thêm cho cô con gái quý. Tôn Thất Thuyết có hai tư dinh: Huyền Thư lâu ở Huế và Huyền Hạc lâu ở Thanh Hóa. Nguyễn Thượng Hiền thích lầu Huyền ở Hạc Thành, thuận lối đi về núi Nưa, có đồi Mai Sơn, mùa xuân hoa mai nở trắng rừng. Ông lấy tên Mai Sơn làm biệt hiệu và trong Mai Sơn thi tập, dành nhiều tình cảm cho Na Sơn thắng tích, một địa danh các nhà địa chí không cưỡng nổi lời ca ngợi. Trong Dư địa chí, sử gia uyên bác Phan Huy Chú viết: "Huyện Nông Cống ở miền thượng du, đất liền với huyện Đông Sơn, phía tây nam có nhiều ngọn núi chập chồng vòng quanh, một chi nhánh núi Na Sơn chót vót, đứng thẳng, trong dãy núi này có nhiều ngọn kỳ lạ, động đẹp...". Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) xem "Na Sơn", "Tùng Lĩnh" là hai ngọn núi tiêu biểu của xứ Thanh trập trùng núi tiếp núi, rừng liền rừng, không hiếm danh sơn thắng tích.

Núi Nưa dài gần 20 km, đỉnh cao nhất hơn 500m, quanh năm mây trắng dạo chơi, lưng sườn sớm chiều sương giăng khói lượn, đâu đâu cũng vang vọng tiếng gà rừng gáy gọi bầy trên cành cây, trong bụi cỏ. Đây là xứ sở của truyền thuyết, dã sử, nơi sinh ra những người khổng lồ thay quyền tạo tạo hóa, xếp đặt núi sông, kiến thiết đồng ruộng, tạo điều kiện cho con người sinh sôi, xóm làng phát triển.

Có thể nói, núi Nưa là núi truyền thuyết. Truyền thuyết chồng lên truyền thuyết, dã sử nối tiếp dã sử. Ông Nưa khổng lồ quảy núi cày sông, ông Nưa tiều phu cưỡi hạc về trời, ông Nưa nho sĩ đắc đạo thành tiên Phạm Viên, Rùa Vàng núi Nưa cứu 18 dũng sĩ núi Nưa thoát nạn giặc Ngô truy sát... Nữ Anh hùng Triệu Thị Trinh cũng là một nhân vật khổng lồ "Cao một trượng cả mười vầng" (thơ Lê Thánh Tông):

                                               Đầu voi phất ngọn cờ vàng
                                               Sơn thôn mấy cõi chiến tràng xông pha....
                                                                      (Đại Nam quốc sử diễn ca)

Phía đông núi Nưa có đền Nưa thờ Thượng Ngàn công chúa. Đằng tây núi Nưa là phủ Na, nơi Mẫu Liễu Hạnh hiển thánh. Nếu đông có ngàn mai thì tây có rừng đào. Tương truyền Tổng đốc Thanh Hóa Tôn Thất Tĩnh chơi núi Nưa, lạc vào Na Sơn động phủ, nhờ suối hoa đào dẫn lối, phát hiện một vùng đất màu mỡ. Ông Nưa người Mường và người Việt đến khai hoang miền đất mới, đặt tên làng Xuân Du. Chữ "Xuân Du" là chữ trong câu thơ "Xuân Du phương thảo địa" (Mùa xuân chơi chốn cỏ thơm). Làng Xuân Du phát triển nghề trồng đào. Nay đào Xuân Du tươi tốt đầy vườn đồi phục vụ bà con xa gần chơi Tết, tô điểm thêm phong cảnh nước non tiên.

Phong cảnh vùng núi Nưa

Dòng sông Lãng Giang uốn khúc lượn quanh chân núi Đông Nưa mở ra đôi bờ những làng xóm trù phú, cổ kính. Nguyên liệu gỗ, nứa tre, mây... ngàn Nưa giàu có là cơ sở những làng nghề tinh khéo: Bồ làng Vặng, giắng làng Cầu, giành sọt làng Lai, quang mây làng Ngẵn... những sản phẩm tiêu thụ tận các chợ quê Quảng Xương, Đông Sơn, Tĩnh Gia, Hoằng Hóa... Dọc chân núi Nưa bạt ngàn tranh, cỏ, khe hón chằng chịt. Giống cá thiêng hón Nưa đêm đi ăn hướng về sao Bắc đẩu nên mang tên cá triều đẩu. Vì sẵn nguồn thức ăn, cọp núi Nưa trở nên hiền. Năm 43 (Công nguyên), Hán Mã Viện chỉ huy giặc Tàu xâm lược truy kích quân Hai Bà Trưng đến tận vùng Nưa (Cư Phong) còn được chứng kiến đàn voi đông tới trăm con, trước đó cách xa hàng dặm đường đã nghe tiếng bước chân rung chuyển núi rừng, tưởng chừng tai trời đất sụt. Người dân đi đêm gặp beo cọp lang thang là chuyện thường. Thực đơn nai, hoẵng, lợn lòi, bò rừng, trâu nước,... xơi mãi cũng chán, lắm khi phải đổi món cá tươi. Mùa mưa, khe suối dâng đầy mau hón, người kéo vó bên này, hùm đón cá bên kia, chỉ cách nhau một dòng chảy hẹp nhưng trời đêm lờ mờ ánh sao, không nhận ra nhau. Một con cá mè hay gáy lớn nhảy vọt ra khỏi miệng vó, vảy bạc ánh lên đường sao băng lấp lánh khiến ông kễnh giật mình gầm lên chạy biến vào rừng cỏ tranh. Người kéo vó đêm có lần dùng sào vó đánh nhau với hổ dữ, bật cười to, rồi thản nhiên tiếp tục công việc mình.

Năm 1962, khảo cổ học nước ta ghi nhận một phát hiện quan trọng, trên ngọn đồi Sỏi thôn Định Kim, chỉ cách núi Nưa khoảng 1 km đường chim bay, phát lộ di tích đồ đồng Đông Sơn, phủ kín khắp bề mặt gò đồi 910.000m2. Di chỉ khảo cổ học miền núi Nưa này thuộc loại hình cư trú "lớn chưa từng thấy trên đất Thanh và cũng hiếm thấy trên miền Bắc nước ta". Giáo sư Sử học Lê Văn Lan nhận định di tích núi Sỏi có thể là làng quê Bà Triệu, người con gái anh hùng của Na Sơn hùng vĩ. Di vật khảo cổ bước đầu thu nhận được ở đồi Sỏi có vũ khí: Giáo, lao, mũi tên, đoản kiếm, dao găm... một ít dụng cụ lao động, nhạc khí như trống đồng... Tất cả công cụ thuộc văn hóa đồng thau Đông Sơn giai đoạn cuối, tương ứng thời kỳ lịch sử Bà Triệu thế kỷ đầu Công nguyên.

Cũng năm 1962, công nhân mỏ crômit Cổ Định, cách đồi Sỏi khoảng 2km đường chim bay, đào tìm được ba thanh đoản kiếm cũng thuộc văn hoá đông Sơn giai đoạn đồi Sỏi. Cán kiếm là tượng tròn đúc một phụ nữ với đầy đủ bộ trang phục quý tộc: Khăn, váy, yếm, áo, thắt lưng, đệm váy, vòng tai, vòng tay... Chỉ có một thanh kiếm độc nhất thể hiện người phụ nữ đẹp vẻ quý phái nắm trong tay đầy đủ quyền lực của bà nữ chúa. Thanh kiếm lệnh này khiến chúng ta nghĩ tới chủ nhân của nó nếu không phải Bà Triệu cũng là một nữ tướng cầm đầu quân đội...

Từ làng Cổ Định, khu mỏ crômit Cổ Định, xã Tân Ninh có đường đi lên di tích đặc biệt Am Tiên, một địa danh nổi tiếng đã được Truyền Kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (hay Dư) thế kỷ XVI mô tả như là một cảnh tiên nơi trần thế.

Căn cứ gia phả họ Trịnh, làng Cổ Định được lập trước Công nguyên, do cụ tổ Trịnh Huân, tướng phò tá vua An Dương Vương. Ban đầu là chạ Ke Nưa, thời Triệu Đà gọi tên chữ Cổ Na, sau đổi Cổ Ninh, rồi Cổ Định. Chính bà con Cổ Định đã giúp người Pháp phát hiện khoáng sản crôm trong lòng núi Nưa. Trên ngọn núi khoáng sản quý này là Am Tiên, có vườn cây thuốc tiên còn quý giá hơn tất cả kim loại do vị Tiên ông ở đây cấy trồng, chăm sóc. Ông đã cưỡi huyền hạc lên thượng giới, để lại vườn cây thuốc tiên và một giếng tiên làm thuốc chữa bệnh cứu người trần thế. Ông Tiên núi Nưa là ai? Là Trần Na ẩn sĩ? Hoàng My tiên sinh? Phạm Viên đạo sĩ? Ông Tu Nưa? Người Tiều phu đốn củi?

Nhà văn thế kỷ XVI viết câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Nưa (Truyền kỳ mạn lục), tên tác giả, bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, ghi là "Nguyễn Dữ". Năm 1944, nhà nghiên cứu văn học sử Dương Quảng Hàm cho xuất bản Việt Nam văn học sử yếu, căn cứ bản Tân biên truyền kỳ tăng bổ giải âm tập chú in năm 1768, cho rằng tên tác giả là "Nguyễn Dư". Tác giả Nguyễn Dư viết: "Chống gậy trèo lên thì thấy có một cái am cỏ, hai bên tả hữu trồng mấy cây kim tiền, chen lẫn vào những cây bích đào, hồng hạnh đều xanh tốt đáng yêu cả. Trong am đặt một cái giường mây, trên giường để đàn sáo và chiếc gối dựa. Hai bên bức vách đông tây đều trát keo trắng và đề hai bài ca, một bài Thích ngủ, một bài Thích cờ...".

Đào Xuân Du

Am Tiên núi Nưa ngày nay (đầu thế kỷ XX), am cỏ đã mất, giường mây hoá thành phiến đá, chỉ còn bàn cờ. Người tiều phu đã mây bay, hạc lánh từ thời Hồ nhưng không quên núi cũ, đêm đêm vẫn về đây cùng bạn tiên chơi cuộc cờ trần thế chăng?

Bên cạnh Am Tiên là Giếng Tiên, nước trong nhìn thấu đáy, quanh năm không cạn và Vườn Tiên bạt ngàn cây thuốc. Thuở Tiên ông chưa cưỡi huyền hạc hay hoá thành huyền hạc bay lên cõi thượng tiên. Ngoài "thích ngủ", "thích cờ", công việc hàng ngày đốn củi độ nhật và hái thuốc chữa bệnh cứu người. Xưa kia, núi Nưa là một biểu tượng thần kỳ của tâm linh, người xứ Thanh ở những nơi mắc bệnh nan giải nhìn thấy ngọn núi Nưa lờ mờ sương sớm hay tím ngắt chiều tà đều nghĩ đến Am Tiên và thuốc tiên.

Sau 1945, trong hoàn cảnh thiếu thuốc chữa bệnh, bà con các huyện Nông Cống, Triệu Sơn (mới), Như Xuân, Thọ Xuân, Đông Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia... vẫn phải cất công trèo lên ngọn núi Am Tiên cầu xin thuốc tiên. Họ thắp ba nén hương, đứng trước am đá, cúi đầu thành kính, lầm rầm khấn vái cầu Tiên ban thuốc. Người ta bỏ hai đồng tiền âm dương xuống giếng, tưới rượu lên hòn đá, cầm vỏ chai buộc dây xin nước tiên, rồi ra vườn cây thuốc. Bàn chân, bàn tay họ tự nhiên có gì xui khiến, chân bước đến đâu, tay hái lá đến đó, cảm thấy đủ thì dừng lại. Lá thuốc giã nát hoà với nước giếng tiên, lọc bã, lặng trong, uống ba lần hết, tất khỏi bệnh.

Xin nước giếng Tiên trên đỉnh ngàn Nưa

Bây giờ vườn cây thuốc chỉ còn lại đất bằng, Tiên ông không về đánh cờ nữa sao bàn cờ tiên đã bị xoá? Giếng tiên thiên tạo thiêng liêng là thế, bị lầm tưởng ra "huyệt đạo" khơi nguồn cho mê tín dị đoan! "Huyệt đạo" chẳng phải tiên, không ra phật, nó là cái gì? Đó là một khái niệm mơ hồ, một thuật ngữ huyền bí, những thánh sư địa lý phong thuỷ như Cao Biền, Tả Ao có con mắt tưởng tượng kỳ tài nhìn vũng nước ra biển cả, thấy hòn đất bảo là non cao... dân gian ta đã chí lý: "Hòn đất mà biết nói năng...". Bản thân hai ông ấy cũng chưa tìm thấy cái "huyệt đạo" đế vương để yểm trấn hoặc chôn cất hài cốt. Vì huyệt đạo đế vương nếu có không dễ bày ra trước mắt như cái thiên tạo - giếng tiên nghìn năm di tích. Hãy khôi phục một di tích đẹp để phục vụ khách hành hương, du lịch như vốn nó đã phục vụ nhân dân làm thuốc. Đó là nét đẹp đặc sắc của Am Tiên núi Nưa.

Hôm nay, tiện đường ngựa xe, ngắm cảnh Ngàn Nưa hùng vĩ, thuận lối lên Am Tiên, chốn tiên mây khói hiện lên cảnh phật từ bi cũng là theo luật vô thường, không gì mất, không gì còn, tiên và phật đều chung một một gốc THIỆN. Và núi Nưa không chỉ có Am Tiên, còn đền Nưa Cổ Định, phủ Na Xuân Du, di chỉ đồi Sỏi, trên quê hương nữ Anh hùng Triệu Thị Trinh "Cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình biển đông, cứu dân tộc thoát vòng nô lệ...". Ta nghe trong gió tiếng cồng Bà Triệu vang vọng ngàn Nưa và giọng hát ru ngân nga quen thuộc điểm nhịp kẽo kẹt võng đưa trong xóm mạc: "Ru con con ngủ cho lành, để mẹ gánh nước rửa bành ông voi, muốn coi lên núi mà coi, coi bà Triệu tướng cưỡi voi phất cờ...".

                                                                                                                     H.T.P/5/2015

 (*) Ảnh minh họa trong bài của các tác giả: Phạm Thị Thanh, Trịnh Quang Minh, Ngọc Minh, HTC chú thích)