22 thg 4, 2017

Sầm Sơn xưa và nay (kì 2): Những làng quê biển

           HOÀNG TUẤN PHỔ
“Sào non không cắm bến lầy”. Những người xứ lạ đầu tiên đến hạ trại cắm lều trên cồn cát nóng bỏng, bãi cát lầy lội, ngày nay nổi danh Sầm Sơn này, phải có cánh tay lực sĩ chèo thuyền buồm trái gió, sự gan dạ của anh hùng trận mạc một đi không trở lại. Họ ăn sóng ở gió để xây dựng Sầm Sơn thành trung tâm đánh cá biển trù phú xứ Thanh. Đàn ông cởi trần dáng khum khum mảng luồng từ nửa đêm gà gáy đã khiêng thuyền vào lộng ra khơi. Đàn bà yếm váy nâu bạc phếch đeo dây buộc tím đội đất lấp ao đầm để cải tạo thành ruộng cấy lúa trồng khoai. Giống khoai Quảng Tiến rất ngon “con ăn một mẹ ăn hai”. Bánh tráng Sầm Sơn bằng gạo lúa thông lúa cờn ăn kẹp với cá nục nướng hương thơm, vị ngon nhớ đời.


Làng Lương Trung (làng Giữa) nghề cá phát triển bậc nhất. “Thu ra chà vào”. Vụ xuân - hè được mùa cá chà. Trưa, chiều thuyền lái dã khơi cặp bến, cá chà đầy đen ắp khoang. Cá chà là cá chim, “chim, thu nụ, đé”, ngon đệ nhất “tứ trụ” biển khơi theo cách sắp xếp thứ bậc của làng Việt. Cá chim mang tên cá chà vì đánh lưới vào mùa chà rạo. Trời tiết nắng nực, ngư dân dựng cây chà rạo (bằng cây tre và lá kè) ngoài biển để hấp dẫn loài cá chim đen đến trú mát. Chung quanh cây chà quây lưới mở rộng cửa. Nếu cá không vào, người phải nhảy xuống biển bơi vào giả làm con cá lớn để dẫn dụ đàn cá chim vào theo.

Nghề cá biển cực kỳ vất vả và nguy hiểm. Đi không lại về không:

... Cũng vì xấu nước xấu nôi
Đánh chả được mồi ta nghĩ làm sao?
Đâm neo kéo mãi mũi vào
Đánh xuống tám sải, tồng vào tận te
Nước mặt chảy ra vè vè
Đánh xuống chín sải tận te là rồi!
(Vè Lái khơi)

Bão tố lật thuyền chết người là chuyện thường. Cha chết con đi thay, anh chết đến lượt em. Những gia đình cha con, anh, em chết chung một chuyến đi biển, không hiếm. Cho nên, gia đình nào cũng cầu mong đẻ thật nhiều con trai, cháu trai, mặc dù càng đông miệng ăn, đời sống càng bấp bênh, càng bập bềnh như con thuyền cưỡi sóng đè gió, dẫu không bị chết đói cũng đói đến chết! Nhưng người ở đây gan góc, bất khuất, truyền thống đấu tranh, tinh thần thượng võ được hun đúc từ nghìn xưa. Đời Lê, tướng Lê Quang Lộc gốc quê Vĩnh Lộc, cầm quân dưới cờ thái úy Trịnh Khả, tham gia dẹp giặc Chiêm quấy phá biên thùy. Thắng giặc, ông được triều đình sai về trấn thủ mặt Đông Thanh Hóa, đóng quân trên cồn cát biển, đời sau thành làng Lương Trung. Ông mở lò vật để luyện võ và lò võ Lương Trung nổi tiếng ra tận đất Bắc. Tướng Quang Lộc mất, triều đình truy tặng tước Đường Công, được nhân dân lập đền thờ, đời sau gọi là nghè Đề Lĩnh, quan chức của ông lúc sinh thời.

Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Lương Trung mở hội vui xuân, vui nhất hội vật thu hút nhiều tay vật lão luyện các nơi tới tham dự cuộc thi tài đấu sức. Hội mở ngay trước nghè Đề Lĩnh để ngài Đường Công chứng giám. Theo lệ thường ngày mồng 10 tháng giêng âm lịch làng Lương Trung tế thần cầu ngư, mở hội vật. Hội mở từ 3 đến 5 ngày trên sân nghè. Trước cửa nghè treo từng chuỗi, từng xâu tiền thưởng trên một cái giá gỗ. Có 3 giải chính:

Giải nhất: 12 quan tiền đồng hoặc 6 quan tiền đồng, tùy theo khả năng kinh tế của làng dồi dào hoặc thiếu kém do nghề cá trong năm dân làng thu hoạch cao, thấp. Người chiếm giải này phải vật ngã 5 đô vật.

Giải nhì: 8 quan tiền đồng hoặc 4 quan tiền đồng, phải vật ngã 3 người.

Giải ba: 4 quan tiền đồng hoặc 2 quan tiền đồng, phải vật ngã 2 người
.
Trước khi vào vật, đô vật phải mặc quần áo dài tới trước hương án, lễ thần bốn bái, sau đó cởi quần áo, đóng khố điều vào vật. Người nào giật giải lại mặc quần áo dài vào lễ tạ thần rồi mới lĩnh giải. (Làng chuẩn bị sẵn mấy bộ quần áo dài để cho đô vật mượn. Xong hội vật, ông thủ từ đem quần áo dài giặt, phơi khô, bỏ vào rương hòm đậy kín, cất vào nghè chờ hội vật năm sau).

Các cụ phụ lão trong làng cách đây ba, bốn chục năm còn kể: Hội vật Lương Trung năm nào cũng thu hút người bốn phương về dự, có mặt cả những đô vật của những lò vật nổi tiếng, như lò Mai Động (Hà Nội), Đồng Tâm (Nam Hà), Gia Lương (Hà Bắc)... nhưng chưa bao giờ trai Lương Trung chịu nhường giải nhất cho thiên hạ. Có một trường hợp duy nhất là ông Mạch ở thôn Cá Lập (phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn) vào được giải nhì, nhưng năm ấy không có giải nhất. Thông thường lò vật nào cũng có một vài miếng sở trường. Ví dụ: Nếu như lò Yên Sở có miếng “sườn” miếng “móc”, lò Đồng Tâm có miếng “móc cháo”, “dật bốc”, “lò Gia Lương có miếng “bốc một”, “bốc đôi”, ở một số lò  có miếng “lò đĩa”... thì ở Lương Trung (Sầm Sơn) rất giỏi miếng “gồng”. “Gồng” là miếng vật đặc biệt, độc đáo đòi hỏi đô vật phải có sức khỏe và sức mạnh toàn thân, nhất là đôi vai và hai cánh tay. Người dùng miếng “gồng”, một tay nắm chặt tay đối thủ, tay kia ôm lấy đùi đối thủ kéo mạnh về phía mình, rồi rất nhanh và bất ngờ đưa vai ra hất vào người đối thủ làm cho ngã uỵch xuống đất tất phải “lấm lưng trắng bụng”. Trai Lương Trung vì chuyên nghề chài lưới nên đôi tay rắn chắc như thép do thường xuyên kéo lưới, kéo rùng, chèo thuyền, đôi vai to nở lại khum khum tựa mảng luồng bởi hàng ngày khiêng thuyền, vác mảng ra biển vào bãi “gồng” có kiểu “gồng đứng, gồng ngồi, gồng quì, các  đô vật Lương Trung đều phải luyện tập trở nên thành thạo. Nhờ giỏi miếng gồng, đô vật Lương Trung thường đánh ngã địch thủ ngay từ keo đầu.

Một lần đô vật Mạch Cá Lập thắng đô vật Lương Trung vì ông cũng là dân chài lưới, từng đi đấu ở nhiều nơi, học được miếng “bò đĩa” ngoài Bắc. Ông giả vờ trượt chân ngã nhử đối phương xông vào ôm đè lên người mình, rồi bất ngờ vòng tay vít chặt cổ đối thủ, cùng lúc đó dùng hai chân quặp ngang sườn anh ta và lấy hết sức mạnh hất ngửa làm cho kẻ địch phải phơi bụng.

Tinh thần thượng võ của Lương Trung nói riêng, Sầm Sơn sau này nói chung góp phần đáng kể tạo nên truyền thống chiến đấu gan góc anh hùng trong sự nghiệp giữ gìn đất nước, bảo vệ quê hương. Đầu năm 1885 giặc Pháp âm mưu xâm lược Thanh Hóa tiến vào bằng đường thủy qua cửa Hới, bị nhân dân Sầm Sơn chống trả quyết liệt. Năm 1946, đô vật Nguyễn Viết Quốc người Lương Trung là đô vật vô địch khu IV trong một hội vật toàn khu. Cuối năm 1952 một tàu chiến Pháp chở 212 sĩ quan Pháp bị nổ tung ở biển Sầm Sơn, có công đóng góp tích cực của người Sầm Sơn. 

Chuyện Kho vàng Sầm Sơn trong tin đồn và tiểu thuyết là có thực. Một ngày tháng 8 năm 1934 cách bờ biển khoảng 150m, một ngư dân ông Đường Phèn người thôn Phú Xá đang đánh cá, thấy lưới bị mắc, lặn xuống để gỡ, bất ngờ đụng phải một kho vàng bạc, châu báu, và những của quý khác. Ông mới mò được một số thoi vàng nặng 10 lạng ta, những thoi bạc dài 12cm, một khẩu súng đồng nạm vàng niên hiệu chữ Hán, Vĩnh Thịnh bát niên (năm 1712)... Tin tức đến tai chính quyền Pháp, lập tức mở cuộc tra xét, tịch thu hết số của cải tìm được trong nhà ông Đường Phèn và thuê người lặn xuống biển tiếp tục mò tìm. Theo tài liệu công bố trên báo chí, không rõ chính quyền Pháp tìm thấy chính xác bao nhiêu, chỉ biết nhà nước thu lại được 99 thoi vàng, hơn 100 nén bạc, trị giá sang bạc Đông Dương bấy giờ khoảng 80.000 đồng. Những tiền đồng và của quí khác không thể tính đếm hết. Đặc biệt ông Đường Phèn còn mò được một chiếc ngai vàng. Ông bị Pháp bắt bỏ tù vì dám ngồi lên ngai vàng của vua, mặc dù chỉ mới ghé đít thử chơi!

Kết cục kho vàng Sầm Sơn bị thực dân Pháp chiếm sạch. Nhưng Sầm Sơn còn lại một kho vàng quý hơn, là con người anh dũng kiên cường, bất khuất và một biển cả vô giá.

Một tác giả người Pháp viết: “Đây là một bãi tắm tốt nhất để hồi phục sức khỏe... không thuộc loại thông thường như Đồ Sơn... và hấp dẫn nhất đối với người tắm biển là núi. Đi theo con đường hẻm đến biệt thự Núi Đá rồi trèo lên đỉnh, chúng ta rẽ tay phải sẽ được thấy những cái kỳ lạ về địa chất, đá chồng, đá hình răng cọp nổi lên như một cái đài kỷ niệm mang nhiều hình dạng kỳ lạ...”.

Bài thơ của ông Nghè Khuyến (Người Nghĩa Trang - Hoằng Hóa) đã vịnh cảnh Sầm Sơn:

Khà khà! Khéo đúc cảnh thiên nhiên
Thú vị Sầm Sơn tựa chốn tiên!
Sóng vỗ phấp phô phun bọt nước
Đá chồng khấp khểnh tựa tòa sen
Sớm ra, kẻ dạo lao xao chợ
Chiều lại người đưa thấp thoáng thuyền
Cuộc rượu Sầm Sơn vui vẻ quá
Khà khà! Khéo đúc cảnh thiên nhiên.


                                                          Hoàng Tuấn Phổ