Hoàng Tuấn Phổ
Ví dụ các cuốn: Sóng nước Cổ Khê (Truyện
lịch sử) Miếng võ gia truyền (Truyện thiếu nhi-NXB Kim Đồng)...Một số cuốn
chỉ còn độc bản như: Vua Lê Đại Hành, Thắng Cảnh Sầm Sơn, Vũng lầy,...
Sách in gần đây như: Thanh Hóa ngàn xưa lưu dấu (NXB trẻ),
Những
làng cổ tiêu biểu Thanh Hóa (NXB Dân Trí), Văn hóa đánh bắt chim thú tôm cá ở
Thanh Hóa (NXB Khoa học xã hội)...các nhà xuất bản chỉ biếu lại tác giả
10 cuốn, còn lại họ tự phát hành với số lượng không lớn (vì loại sách nghiên cứu
đối tượng độc giả rất hạn chế). Loại sách Địa phương chí do Hoàng Tuấn Phổ chủ
biên hoặc biên soạn (đều trên dưới 1000 trang) cũng đều do các huyện tự in, số
lượng chỉ đủ phát hành nội bộ. Trên thị trường sách vì vậy cũng rất hiếm gặp hoặc
không có. Được sự đồng ý của tác giả Hoàng Tuấn Phổ, trước tiên, Tuấn
Công thư phòng xin
trích đăng từng phần nội dung sách “Nguồn gốc ý nghĩa tang lễ người Việt” (NXB Thanh Hóa). Đây là cuốn sách do
UBND tỉnh Thanh Hóa cấp kinh phí phát hành tới các làng xã Thanh Hóa, phục vụ
phong trào xây dựng làng văn hóa và nông thôn mới. Chúng tôi tin rằng sách “Nguồn
gốc ý nghĩa tang lễ người Việt” sẽ bổ ích đối với bạn đọc quan tâm tới
vấn đề này. Các kỳ đăng sẽ được lưu trong mục Thường thức)
Trân
trọng kính báo tới độc giả của Tuấn Công thư phòng.
Phần I
I. TANG CHẾ XƯA VÀ NAY
(Thay lời nói đầu)
Tang
chế là gì?
Là
những quy định, thể chế, chuẩn hóa về hình thức và nội dung trong việc đưa tiễn
người thân về nơi an nghỉ cuối cùng. Nói cách khác tang chế là chế độ, nghi
thức về lễ tang hay tang lễ.
Người Việt ta từ ngàn
xưa chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Đặc biệt vấn đề Tang lễ theo quy chế cổ rất phức tạp, gây phiền nhiễu và tác hại
cho người sống, những người rồi chính họ cũng ra đi, để gánh nặng ma chay đè
nặng lên vai con cháu.
Kinh lễ hay Lễ kinh là pho sách Nho học thời phong kiến thuộc bộ Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch,
Xuân thu), đã là học trò thì ai cũng
phải nghiền thuộc. Trong Lễ kinh, nói rộng ra là Lễ truyện, Lễ ký đều có
những chương, mục bàn về tang lễ được người Việt tiếp thụ đem ra áp dụng, nhưng
không phải tất cả ý kiến mang giá trị nhân văn, thực chất bên cạnh yếu tố tích
cực, không khỏi ít nhiều tiêu cực. Ví dụ: Chương “Vấn tang”, Lễ kinh nói: Khi cha mẹ mới chết, người con có hiếu phải đầu trần, chân đất, tóc
xỏa, áo hở, tay đấm ngực, miệng gào khóc, mình lăn ra dãy dụa, thậm chí không
được đốt lửa nấu ăn suốt trong ba ngày, chỉ nhờ chút nước cháo cầm hơi của hàng
xóm đem cho... Như thế mới tỏ rõ được
nỗi đau thương vô tận của người con chí hiếu!
Những
chuyện ấy, thời xưa nhà nho rất coi trọng, và thời nay vẫn còn số ít người muốn
khôi phục, tất nhiên chỉ về mặt hình thức. Họ không biết đó chẳng phải là lời
dạy của đức Khổng tử, bậc thầy lớn về chữ Hiếu, về chữ Lễ của nhà nho. Theo
Khổng tử: “Người con có hiếu là biết nuôi
nấng cha mẹ, biết noi theo chí hướng tốt của cha mẹ”. Phát triển lời dạy
của thánh sư, đồ đệ giỏi Tăng tử nói: Làm con cư xử không trang nghiêm không
phải là hiếu. Thờ vua không trung thành không phải là hiếu. Bằng hữu mà thiếu
tin tưởng nhau không phải là hiếu. Đánh trận mà không dũng cảm cũng không phải
là hiếu...
Về
chữ “Lễ” trong Tang ma, Khổng tử dạy rằng: Cha mẹ chết, con tất phải lo tang ma
tế lễ. Nhưng tế lễ chỉ nên giản tiện
(giản dị và tiện lợi) không bày vẽ thêm.
Con tế lễ cha mẹ, quan trọng nhất là tấm lòng thành kính, không phải do lễ vật
cúng tế. (Chương “Tế thống” - Lễ kinh).
Những
lời dạy quý báu ấy phù hợp với đức tính truyền thống của người Việt ta ưa
chuộng sự giản dị, tiện lợi, ghét giả dối, không thích phô trương, được đúc kết
thành ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Cần có lễ vật nhưng không lấy lễ vật làm đầu,
mượn tiếng cúng tế ông bà, cha mẹ để ăn uống lãng phí:
Bà chết cháu được ăn xôi,
Hai tay hai nắm bà ôi là bà!
Họ
tôn trọng tục lệ thờ cúng tổ tiên để bày tỏ tấm lòng biết, nhớ công ơn tổ tiên:
“Bắt thiếu giỗ không ai bắt cỗ lưng”.
Họ phê phán kẻ không phụng dưỡng cha mẹ lúc sống, đến khi chết lại bày trò báo
hiếu trả ân, chẳng qua để che miệng thế gian, và để: “Trước cúng cha sau va vô miệng”! v.v...
Tuy
nhiên, những quan niệm tiến bộ của người Việt về tang ma trong thuần phong mỹ
tục không đủ sức chống lại áp đặt của hệ ý thức tư tưởng phong kiến về luân lý
lễ giáo. Triều đình phong kiến nước ta khuyến khích việc chuẩn hóa quy chế tang
lễ theo quan điểm tiêu cực của Nho giáo, một số nhà nho biên soạn sách “Gia lễ” với vô số lễ tiết cầu kỳ, rườm
rà, phức tạp về tang ma. Người ta có thể theo Hồ thượng thư gia lễ của Hồ Sĩ Dương, hoặc Gia lễ tiệp kính của Ngô Doãn hay Thanh thuận gia lễ của Lê Quý Đôn,... Vấn đề tang ma vốn đã phức
tạp càng thêm rối loạn. Trước tình hình ấy, một nhà nho khác, ông Hồ Sĩ Tân
biên soạn Thọ Mai gia lễ chú ý tham
khảo, vận dụng trong giới hạn tư duy chủ quan đối với phong tục tập quán xã hội
nước nhà. Do có ít nhiều tiến bộ so với các tập sách trước nó, Thọ Mai gia lễ nhanh chóng được dân gian
tiếp nhận và lưu truyền. Đặc biệt dưới triều Nguyễn, Thọ Mai gia lễ được sử dụng như một thứ luật lệ về tang ma do chế
độ nhà Nguyễn quy định.
Cuốn
Thọ Mai gia lễ đương thời bị nhà nho
Phạm Đình Hổ (1768-1839) tác giả sách Vũ
trung tùy bút nổi tiếng - đả kích kịch liệt nội dung quê mùa, dốt nát, đưa
ra những cách thức lạ kỳ chưa từng thấy, soạn giả thu thập, nhặt nhạnh những
điều vớ vẩn, bỏ cái này, chọn cái kia, loạn sị ngậu... Phạm Đình Hổ chỉ trích
đích danh Hồ Sĩ Tân soạn Thọ Mai gia lễ,
khắc in phát hành nhằm thu lợi, có người đã muốn đem sách trình vào phủ chúa
Trịnh, Bồi tụng Trần Công Xán phải lựa lời nói mãi mới thôi. Thành ra sách cứ
lưu hành ở đời, chốn thôn dã bởi dân tình thiếu cẩn thận nên dễ bán. Người ta
tranh nhau mua, Hồ Sĩ Tân thu được lợi lớn. Nhưng chỉ dùng riêng ở thôn quê,
các bậc thức giả đa phần coi thường. (Theo Trần Thị Kim Anh). Cần nói rõ hơn,
quan điểm của Phạm Đình Hổ, một nho gia xem Gia
lễ của Chu tử là kim chỉ nam, không thể đề cao các sách Gia lễ của Hồ Sĩ Dương, Ngô Doãn,... Bản
thân Phạm Đình Hổ trong sách Vũ trung tùy
bút (Bản dịch Trần Thị Kim Anh) cũng viết mấy bài về tang ma, tuy có đưa ra
một số ý kiến, nhưng đại để là biện luận theo thuyết này hay thuyết kia, cốt
yếu vẫn là trên tinh thần Chu gia lễ.
Ví dụ:
Phạm
Đình Hổ viết ở mục Cư tang: Khi người
xưa nào đang lúc có đại tang mà thê thiếp có thai thì phạm lệ cấm. Từ khi ông
Nguyễn Toàn An vì lệ cấm mà đến nỗi bị phạp tự (không con trai thờ cúng) mới bỏ
lệ cấm ấy đi, đó cũng là lòng nhân đạo thương người, muốn khoan dung để cho mở
rộng đường hiếu vậy. Song đó là vì đối với những kẻ chưa có con thừa tự mà rộng
đường nhân. Còn những kẻ đã có con thừa tự (con thờ cúng) mà cũng mạo muội
(phạm lệ cấm) làm theo thì thực là quái lạ! Như vậy, quan điểm Phạm Đình Hổ ở
đây tưởng có cái nhìn tiến bộ, hóa ra chẳng có gì đổi khác.
Phạm
Đình Hổ kịch liệt phê phán thói tục nhà có tang bày ra ăn uống linh đình, quên
mất cả lòng báo hiếu... “Lại còn những nơi làng xóm thôn quê cứ theo hủ tục gặp
một nhà có tang thì kéo đến hội họp từng lũ để ăn uống từ lúc mới mất cho đến
lúc chôn, nếu có điều gì không được như ý thì viện lệ làng ra để hạch sách, làm
cho người ta phải bán cả vườn ruộng để cúng vào cái mồm, cái bụng của những kẻ
hạch ăn. Thói ấy đã nhiều lần sức cấm mà vẫn không đổi hết được, thực cũng lạ
thay!”. Thái độ phẫn nộ hết sức đúng đắn của Phạm Đình Hổ, ngày nay chúng ta
đọc lại tưởng như ông đả phá những hiện tượng tiêu cực đang diễn ra chung quanh
mình. Thế mới biết có những hủ tục, không dễ bài trừ!
Những
“lệ làng” đến “phép vua” cũng phải “thua”! (Câu “Phép vua thua lệ làng” bị hiểu
lầm là tinh thần tự do, dân chủ nơi thôn xã thời phong kiến). Sự thực, “lệ
làng” sở dĩ tồn tại do không vi phạm luật pháp của triều đình, không chống lại
lợi ích của gia cấp thống trị. Ngay như bản “Hương ước” do làng soạn ra cũng
vậy, phải được quan trên xem xét, nếu không phạm đến phép vua luật nước, mới
phê duyệt cho thi hành.
Từ
sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa mới
của Đảng nhanh chóng được nhân dân hưởng ứng thành phong trào rộng khắp,
kiên quyết bài trừ hủ tục, chống xa hoa lãng phí, thực hành tiết kiệm. Nhưng do
nền kinh tế thị trường tác động, có cả mặt tích cực và tiêu cực, “Phú quý sinh
lễ nghĩa” mà không phú quý cũng đua đòi “sinh lễ nghĩa”, tạo điều kiện cho hủ
tục phục hồi và Thọ mai gia lễ có cơ
hội hồi sinh. Thực chất nội dung tư tưởng Thọ
Mai gia lễ về căn bản đã lạc hậu. Mặc dù ở thời kỳ rạng rỡ nhất trong thế
kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Thọ Mai gia lễ
cũng đã bộc lộ sự bất ổn bởi soạn giả với tất cả hạn chế của một nhà nho không
vượt thoát nổi vòng xiềng xích tiêu cực của Nho giáo. Ví dụ: Khi linh cữu người
thân còn quàn ở nhà, con cháu phải ngày mấy bữa dâng cúng cơm canh y như đang
sống, nghi lễ “điểm thực” “điểm trà” rất phiền toái, đến nỗi dân gian từng mỉa
mai, đả kích:
Chết thời điểm thực, điểm trà,
Sống xin một tý nước cà, không cho!
Cả
cái nghi lễ văn cúng cũng vậy, mỗi lần dâng cúng là một lần đọc văn tế:
Lúc sống thì chẳng cho ăn,
Đến khi chết xuống, làm văn tế ruồi!
Trong
việc biên soạn Quy ước nếp sống văn hóa
mới của làng xã, tham khảo các “gia lễ” thời xưa cũ là cần thiết để gạn đục
khơi trong, đãi cát tìm vàng, góp phần xây dựng tang chế văn minh, tiến bộ trên
nền tảng thuần phong mỹ tục cổ truyền và dưới ánh sáng văn hóa Cách mạng. Mọi
sự đề cao một chiều “gia lễ” đều sai lầm, không phải là phát huy truyền thống
cha ông hay giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Bộ
Văn hóa thực hiện chủ trương Chỉ thị của Đảng và Chính phủ, tiến hành nhiều
cuộc tuyên truyền vận động toàn dân xây dựng Nếp sống văn hóa mới. Nhưng thực tiễn cuộc sống vốn muôn màu ngàn
vẻ, vấn đề không chỉ là câu chuyện sách vở mà còn là phong tục, tập quán, một
lĩnh vực khá nhạy cảm và hết sức phức tạp, khiến cuộc vận động thực hành quy
ước Nếp sống văn hóa mới không dễ,
đặc biệt về tang lễ.
Bàn
về “Nguồn gốc, ý nghĩa tang lễ người Việt”, tác giả mong được góp một tiếng nói
vào cuộc tuyên truyền, vận động ấy.
Hoàng Tuấn Phổ
(Hết phần I-Đón đọc phần II "Hồn phách và sinh tử")
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét